Luận án tiến sĩ quản lý đánh giá kết quả học tập của sinh viên ngành sư phạm theo tiếp cận năng lực tại các trường đại học khu vực miền núi phía bắc

Luận án tiến sĩ phân tích quản lý đánh giá kết quả học tập sinh viên ngành sư phạm theo tiếp cận năng lực tại các trường đại học miền núi phía bắc.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

294
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý đánh giá kết quả học tập sinh viên sư phạm

Quản lý đánh giá kết quả học tập của sinh viên ngành sư phạm là một vấn đề quan trọng trong giáo dục hiện đại. Đặc biệt, việc áp dụng tiếp cận năng lực trong đánh giá giúp xác định rõ ràng những gì sinh viên cần đạt được. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn đảm bảo rằng sinh viên có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Trang (2022), việc quản lý đánh giá cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả.

1.1. Khái niệm về đánh giá kết quả học tập sinh viên

Đánh giá kết quả học tập sinh viên là quá trình thu thập thông tin để xác định mức độ đạt được các mục tiêu học tập. Điều này bao gồm việc sử dụng các phương pháp và công cụ đánh giá khác nhau nhằm đo lường năng lực của sinh viên.

1.2. Tầm quan trọng của quản lý đánh giá trong giáo dục

Quản lý đánh giá không chỉ giúp cải thiện chất lượng đào tạo mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực. Việc áp dụng các phương pháp đánh giá hiện đại giúp sinh viên phát triển năng lực một cách toàn diện.

II. Thách thức trong quản lý đánh giá kết quả học tập sinh viên sư phạm

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc quản lý đánh giá kết quả học tập sinh viên sư phạm theo tiếp cận năng lực vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của đánh giá, sự thiếu hụt trong quy định và phương pháp đánh giá hiện tại là những yếu tố cản trở. Theo nghiên cứu, nhiều giảng viên vẫn chưa được đào tạo đầy đủ về các phương pháp đánh giá mới.

2.1. Nhận thức về vai trò của đánh giá

Nhiều giảng viên và cán bộ quản lý chưa nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc đánh giá kết quả học tập. Điều này dẫn đến việc áp dụng các phương pháp đánh giá chưa hiệu quả.

2.2. Thiếu hụt trong quy định và phương pháp

Các quy định hiện hành về đánh giá kết quả học tập chưa được cập nhật kịp thời. Điều này gây khó khăn cho việc thực hiện các phương pháp đánh giá hiện đại và hiệu quả.

III. Phương pháp quản lý đánh giá kết quả học tập sinh viên sư phạm hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả quản lý đánh giá kết quả học tập, cần áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại. Việc sử dụng vòng tròn Deming (PDCA) trong quản lý đánh giá là một trong những phương pháp hiệu quả. Phương pháp này giúp đảm bảo rằng quá trình đánh giá được thực hiện liên tục và cải tiến theo thời gian.

3.1. Vận dụng vòng tròn Deming trong quản lý

Vòng tròn Deming bao gồm bốn bước: Lập kế hoạch, Thực hiện, Kiểm tra và Điều chỉnh. Việc áp dụng phương pháp này giúp cải tiến quy trình đánh giá một cách liên tục.

3.2. Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức

Cần tổ chức các hoạt động đào tạo cho giảng viên và cán bộ quản lý về các phương pháp đánh giá hiện đại. Điều này giúp nâng cao nhận thức và kỹ năng trong việc thực hiện đánh giá.

IV. Ứng dụng thực tiễn của quản lý đánh giá kết quả học tập sinh viên sư phạm

Việc áp dụng các phương pháp quản lý đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận năng lực đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các trường đại học khu vực miền núi phía Bắc đã có những bước tiến trong việc cải thiện chất lượng đào tạo. Nghiên cứu cho thấy, sinh viên có năng lực tốt hơn khi được đánh giá theo cách tiếp cận này.

4.1. Kết quả nghiên cứu từ các trường đại học

Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên được đánh giá theo tiếp cận năng lực có kết quả học tập tốt hơn. Điều này chứng tỏ rằng phương pháp đánh giá này là hiệu quả.

4.2. Các mô hình thành công trong quản lý đánh giá

Một số trường đại học đã áp dụng thành công các mô hình quản lý đánh giá, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai trong quản lý đánh giá

Quản lý đánh giá kết quả học tập sinh viên sư phạm theo tiếp cận năng lực là một lĩnh vực cần được chú trọng. Để nâng cao chất lượng đào tạo, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp đánh giá mới. Hướng tới tương lai, việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý đánh giá sẽ là một xu hướng tất yếu.

5.1. Tầm quan trọng của đổi mới trong quản lý

Đổi mới trong quản lý đánh giá là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện đại. Việc áp dụng các phương pháp mới sẽ giúp nâng cao chất lượng đào tạo.

5.2. Xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý đánh giá. Việc sử dụng các phần mềm quản lý sẽ giúp tối ưu hóa quy trình đánh giá và nâng cao hiệu quả.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ quản lý đánh giá kết quả học tập của sinh viên ngành sư phạm theo tiếp cận năng lực tại các trường đại học khu vực miền núi phía bắc

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGÀNH SƯ PHẠM THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập của sinh viên Đối với bậc đại học, đánh giá KQHT của SV trong lớp học hướng tới những mục đích quan trọng.Russell, đánh giá KQHT trong lớp học như một thành tố của hoạt động giảng dạy, có mối liên hệ tích hợp với tất cả các quá trình diễn ra trong lớp học. Đánh giá KQHT không chỉ nhằm mục đích cho điểm mà còn liên quan đến việc tổ chức, xây dựng kế hoạch và thực thi các chiến lược giảng dạy, đào tạo của GV [122].

Freed và Huba chỉ ra rằng: cùng với sự ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, sự linh hoạt của mô hình đào tạo theo tín chỉ, sự dân chủ tương đối giữa người dạy và người học, đánh giá cần phải có những thay đổi như là một trong giải pháp đổi mới căn bản giáo dục đại học [118] Nguyễn Thị Thanh Trà (2016) nhận định rằng: “Mặc dù các công trình về đánh giá KQHT trước những năm 1990 rất phong phú nhưng chỉ tập trung đánh giá khả năng ghi nhớ tri thức của người học mà ít hoặc chưa quan tâm đến người học vận dụng tri thức đó như thế nào. Đó cũng chính là nhược điểm lớn nhất của dạy học theo tiếp cận nội dung, thường mang tính hàn lâm, lý thuyết. Điều này có thể được lý giải căn cứ vào mục đích đánh giá của từng giai đoạn phát triển trong lịch sử khoa học đánh giá giáo dục. Một xu thế được gọi là “đào tạo theo NL” (Compentency based training – CBT) được thực hiện ở nhiều nước, khởi đầu ở Mỹ vào năm 1970 và gần đây lan rộng khắp các nước Anh, Úc, Newzeland…[86, tr.

Theo đó, mở ra một hướng tiếp cận mới trong đánh giá, đó là đánh giá dựa vào NL. “Đó là quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những phán xét về bản chất và phạm vi của sự tiến bộ theo những yêu cầu thực hiện đã được xác định trong tiêu chuẩn nghề hoặc mục tiêu dạy học và đưa ra phán xét rằng một NL nào đó đã đạt được hay chưa ở một thời điểm nhất định” [86, tr. 13 Gần đây, trong cuốn “ Đo lường và đánh giá hoạt động học tập trong nhà trường”, bên cạnh việc hệ thống hóa cách phân loại mục tiêu học tập của Bloom, Lâm Quang Thiệp cho rằng, một cách tiếp cận mới khi xây dựng chương trình giáo dục ở các nước hiện nay là đưa ra các mục tiêu có tính tổng hợp, đó là các mục tiêu về NL [92, tr 107]. Đánh giá theo mục tiêu tổng hợp giúp khắc phục được xu hướng thiên lệch của người dạy khi tiến hành đánh giá, nghĩa là quan tâm quá nhiều đến mục tiêu nhận thức mà ít chú ý đến các mục tiêu kỹ năng hoặc tình cảm.Mcmillan (2001) trong cuốn sách Kiểm tra và đánh giá lớp học – Nguyên tắc và thực hành để giảng dạy hiệu quả cho rằng, nếu các hình thức kiểm tra truyền thống như trắc nghiệm khách quan hay tự luận đánh giá rất tốt cho mục tiêu biết và hiểu đơn giản thì hình thức đánh giá sự thực hiện lại phục vụ tốt cho mục tiêu hiểu sâu, lập luận, đánh giá các kỹ năng cũng như sản phẩm.

Quan điểm này được Stiggins đồng thuận và được thể hiện rõ trong ma trận Stiggins. Theo ma trận của Stiggins [Dẫn theo 119, tr.192], để đánh giá NL, nên sử dụng phương pháp đánh giá thực hành. Thế mạnh của đánh giá thực hành là có thể quan sát và đánh giá các kỹ năng như thể hiện, hoặc đánh giá trình độ tiến hành các bước để hình thành sản phẩm và các thuộc tính của bản thân sản phẩm. Trong khi các phương pháp đánh giá truyền thống như trắc nghiệm khách quan hay tự luận chỉ có thể đánh giá một hoặc một yếu tố tạo nên NL mà thôi.Airasian (2005), đánh giá sự thực hiện không phải là loại đánh giá mới, bây giờ mới được biết đến mà đây là hình thức đánh giá đã có từ lâu và được sử dụng trong các lớp học ngay từ khi xuất hiện việc dạy học.

Tuy nhiên hình thức đánh giá này được đề cao nhờ ảnh hưởng của phong trào dạy học theo tiếp cận NL trên toàn nước Mỹ [122]. cho rằng, đánh giá xác thực đối với người học nên trở thành một bộ phận tích hợp với quá trình giảng dạy [117]. và các cộng sự khi nghiên cứu về mô hình đánh giá KQHT lại khuyến nghị: đánh giá cần phải thực hiện thường xuyên, kết hợp nhiều loại hình đánh giá khác nhau, đánh giá mang tính trực tiếp và gián tiếp [115]. Ngược lại, nhóm nghiên cứu Yorkovich, Waddell và Gerwig không ủng hộ hệ thống đánh giá dựa vào NL.

Các tác giả cho rằng, mục tiêu NL của cá nhân người 14 được đánh giá không được phản ánh rõ ràng, khiến cho hệ thống đánh giá trở nên cứng nhắc và kém hiệu quả. Họ kiến nghị rằng, muốn vận hành hệ thống này, phải xác định được chiến lược có sự giao thoa của đặc điểm cá nhân, mục tiêu của tổ chức, môi trường bên ngoài, những thách thức của tương lai và các nhân tố khác, điều này cho phép cơ sở đào tạo đáp ứng hiệu quả và sáng tạo đối với các thách thức và cơ hội luôn thay đổi [126]. Tuy nhiên, có thể sự cứng nhắc chỉ đúng khi đánh giá được thực hiện với tư cách là đánh giá trên diện rộng, mà thực ra các kết quả của kỳ đánh giá trên diện rộng lại chủ yếu phục vụ hỗ trợ cho các quyết sách, chứ không phải hỗ trợ cho từng người học cụ thể. Còn với tư cách là đánh giá trong lớp học, GV hoàn toàn có thể khắc phục được nhược điểm này.

Trên cơ sở các thành tựu về phương pháp đánh giá, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam đã và đang nỗ lực trong việc tìm kiếm các quy trình đánh giá KQHT sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của giáo dục ĐH trong nước. Năm 2003, Đặng Bá Lãm viết cuốn Kiểm tra – đánh giá trong dạy – học ĐH [60]. Về mặt lý luận, cuốn sách đã bước đầu hệ thống hóa các khái niệm cơ bản liên quan đến kiểm tra, đo lường, đánh giá, định giá trị trong giáo dục đại học. Về mặt thực tiễn, tác giả thẳng thắn chỉ ra một trong những hiện trạng bất cập của giáo dục ĐH ở nước ta tại thời điểm đó.

Tác giả đã đề xuất quy trình kiểm tra – đánh giá gồm 10 bước: phân tích mục tiêu, nội dung kiểm tra; chọn các hình thức kiểm tra phù hợp; lựa chọn hoặc xây dựng các câu hỏi kiểm tra, phân tích các câu hỏi; chọn các cách chấm và cách cho điểm; phân tích thống kê số liệu kết quả; đánh giá câu hỏi; Chuẩn hóa kết quả; công bố kết quả và cuối cùng là định các bước tiếp theo. Năm 2014, Nguyễn Thành Nhân công bố luận án mang tên “Mô hình đánh giá KQHT của SV trong đào tạo theo tín chỉ” [72]. Điểm cốt lõi trong mô hình này chính là quy trình đánh giá KQHT môn học của SV theo quan điểm đánh giá xác thực do Muller, J. đề xuất để thiết kế với định hướng phát triển năng lực SV trong đào tạo theo tín chỉ.

Quy trình này trải qua các giai đoạn: thiết kế, thực thi, tổng kết. Trong đó, xuyên suốt cả ba giai đoạn là chuẩn đánh giá NL của người học. Sản phẩm quan trọng mà luận án đem lại là một mô hình đánh giá KQHT được xây dựng theo 15 cách tiếp cận CIPO nghĩa là bao gồm: đầu vào (input), quy trình hoạt động (process), kết quả đầu ra (outcomes), bối cảnh (context). Có thể nói, đây là một mô hình hiện đại, với luận giải khá sâu sắc về quan điểm đánh giá vì sự phát triển NL của người học với các cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận CIPO và tiếp cận tích hợp.

Nếu như quy trình của Đặng Bá Lãm (2003) đề xuất đầy đủ các bước chung nhất của một kỳ kiểm tra, thì quy trình do Nguyễn Thành Nhân đề xuất (2014) mang đặc tính của đánh giá trong học chế tín chỉ, tức là tích hợp giữa dạy học và đánh giá, đồng thời chú trọng phương pháp đánh giá sự thể hiện NL hơn là kiến thức, kỹ năng đơn lẻ. Điều này dễ hiểu vì hai nghiên cứu này cách nhau hơn một thập kỷ, và chính trong giai đoạn đó, thực tiễn giáo dục ĐH Việt Nam có những biến đổi lớn vì sự du nhập của học chế tín chỉ. Gần đây, tác giả Nguyễn Đức Chính cho rằng: “Trong quá trình đào tạo ở Việt Nam, việc kiểm tra đánh giá KQHT – một khâu trọng yếu chỉ được tiến hành thông qua những hình thức truyền thống như các câu hỏi trắc nghiệm khách quan hoặc trắc nghiệm tự luận. Những bài kiểm tra- đánh giá kiểu này chỉ đòi hỏi SV miêu tả lại những sự kiện riêng rẽ, hiếm khi yêu cầu SV vận dụng những kiến thức đã học vào một tình huống thực trong cuộc sống.

Và kết quả là nguồn nhân lực được đào tạo trong bối cảnh như vậy không có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế thế giới. Do đó, các bài đánh giá cần phải gắn chặt hơn những kiến thức kỹ năng mà SV học được trong trường ĐH với những gì cuộc sống thực yêu cầu họ” [18]. Tác giả Hồ Thị Nhật, trong công trình nghiên cứu về “Đánh giá vì sự tiến bộ học tập ở giáo dục đại học” đã góp phần làm sáng tỏ hơn các khái niệm, nguyên tắc triết lí, phương pháp và kỹ thuật đánh giá theo quan điểm đánh giá vì sự tiến bộ học tập. Công trình không chỉ cung cấp các thông tin khoa học quốc tế về đánh giá KQHT mà còn chỉ ra bức tranh thực trạng cũng như các rào cản trong việc thực hiện tiếp cận đánh giá vì sự tiến bộ học tập ở đại học Việt Nam [73] Trong khối ngành SP, một trong các nghiên cứu quan trọng phải kể đến là luận án “Dạy học Giáo dục học ở ĐHSP theo tiếp cận NL thực hiện” của Lê Thùy Linh [62].

Tác giả nhận định rằng: “ Dạy học GDH theo tiếp cận NL thực hiện sẽ nâng 16 cao hiệu quả dạy học, đưa GDH trở thành môn học giữ vị trí xứng đáng là môn học nghiệp vụ có tính chất dạy nghề của trường SP”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ