Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác HSSV trong các cơ sở dạy nghề. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác học sinh tại Trường Trung cấp nghề Thái Bình. Chương 3: Các biện pháp quản lý công tác học sinh tại Trường Trung cấp nghề Thái Bình trong giai đoạn hiện nay. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ 1.
Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề Việc nghiên cứu vấn đề quản lý công tác HSSV trong các cơ sở giáo dục đào tạo không phải là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Hiện nay, rất nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này đã có kết quả và được công bố. Đầu tiên phải kể đến những nghiên cứu và thành quả nghiên cứu vấn đề này của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục. Thành quả nghiên cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo được cụ thể hóa trong các quy chế về công tác HSSV trong các cơ sở giáo dục ban hành kèm theo các quyết định số 1584/GD-ĐT ngày 27 tháng 7 năm 1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; sửa đổi, bổ sung theo quyết định số 39/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 30 tháng 8 năm 2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Hiện nay, sau khi nghiên cứu tình hình thực tiễn và lý luận, Bộ đã có quy chế mới về công tác HSSV thay thế cho các quy chế trên, ban hành kèm theo quyết định số 42/2007/QĐ- BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thêm vào đó, Bộ đã nghiên cứu chi tiết và ban hành quy chế công tác HSSV nội trú tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, kèm theo Thông tư số 27/2011/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đã nghiên cứu và ban hành quy chế công tác HSSV trong các CSDN hệ chính quy, kèm theo quyết định số 26/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Đồng thời, Bộ cũng đã ban hành quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên hệ chính quy trong các cơ sở dạy nghề, kèm theo quyết định số 54/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 19 tháng 5 năm 2008.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở cấp cơ sở, việc nghiên cứu vấn đề quản lý công tác HSSV cũng được chú ý và đã có những kết quả được công nhận. Đó là các đề tài của các tác giả: Nguyễn Văn Tuấn về “Quản lý công tác học sinh tại trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay”; Nguyễn Trọng Tài nghiên cứu “Các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại trường Đại học Thủy lợi”; Nguyễn Minh Đức về “Đổi mới quản lý công tác sinh viên ở trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang tín chỉ”; Lê Mạnh Thắng về “Các giải pháp quản lý công tác học sinh sinh viên tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I”. Các đề tài trên đã nghiên cứu về quản lý công tác HSSV trong toàn bộ hệ thống giáo dục và đào tạo nói chung, hệ thống giáo dục nghề nghiệp nói riêng, hoặc tại một cơ sở giáo dục đại học hay trung cấp chuyên nghiệp nhất định nào đó. Nhưng do điều kiện cụ thể ở từng cơ sở giáo dục đào tạo là khác nhau, nên không thể rập khuôn cứng nhắc các kết quả nghiên cứu về quản lý công tác HSSV nói chung cho một cơ sở giáo dục đào tạo nhất định, và cũng không thể áp dụng kết quả nghiên cứu ở cơ sở giáo dục đào tạo này cho cơ sở giáo dục đào tạo khác.
Mặt khác, hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào về vấn đề quản lý công tác học sinh được thực hiện tại Trường Trung cấp nghề Thái Bình. Do đó, để giúp cho việc thực hiện quản lý công tác học sinh tại nhà trường được hiệu quả hơn, thực tế hơn, phục vụ tốt hơn cho mục tiêu dạy nghề của nhà trường, cần thiết phải có nghiên cứu đầy đủ, khoa học về quản lý công tác học sinh tại Trường Trung cấp nghề Thái Bình trong giai đoạn hiện nay. Cơ sở lý luận về quản lý công tác HSSV trong các cơ sở dạy nghề 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý và các chức năng cơ bản của quản lý Khi nói đến quản lý, ta liên hệ ngay về một tổ chức. Tổ chức, theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, là “đoàn thể do nhiều bộ phận họp thành, với mục đích, tôn chỉ, cương lĩnh hoạt động”[18, tr. Từ điển tiếng Việt thông 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng định nghĩa tổ chức là “tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung”[29, tr. Ở đây chúng ta sử dụng định nghĩa “Tổ chức là một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, một con người riêng lẻ không thể nào đạt đến”[6, tr.
Hoạt động quản lý đã xuất hiện và tồn tại ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ. Sử gia Daniel A.Wren cũng đã nhận định rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy”[6, tr.23], nhưng ông cũng chỉ ra rằng chỉ mới gần đây, người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần dần hình thành nên các “lý thuyết” quản lý. Hiện nay, quản lý là một khoa học được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu khoa học quản lý, vì vậy cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý được đưa ra.
Marx, “quản lý là lao động điều khiển lao động”. Ông cũng khẳng định: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”[14, tr. Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915), nhà thực hành quản lý khoa học về lao động, đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[14, tr. Henry Fayol (1841- 1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình “hoạt động quản lý” và phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”, mà sau này được kết hợp lại thành bốn chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản lý được định nghĩa là “tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”[14, tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, thuật ngữ “quản lý” tiếng Việt gốc Hán lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: (1) quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”, (2) quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ thống vào thế “phát triển”. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản”, tức chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ bị trì trệ.
Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Tóm lại, để hệ thống ở thế cân bằng, tức là hệ thống vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) và các nhân tố bên ngoài (ngoại lực) thì trong “quản” phải có “lý” và ngược lại trong “lý” phải có “quản”[2]. Từ quan niệm của các học giả nêu trên, và để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu đề tài, luận văn này thống nhất sử dụng khái niệm của Griffin (1998): “Quản lý là một tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lên kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) để sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) nhằm đạt được những mục tiêu đề ra của tổ chức một cách có hiệu quả”[1, tr. Tiếp cận quản lý với tư cách là một hoạt động, chúng ta thấy quản lý có 4 chức năng cơ bản là: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo - chỉ đạo, kiểm tra.
- Chức năng lập kế hoạch: Để thực hiện chức năng này, cần làm các công việc như: nhận dạng và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức, biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của quá trình. Mỗi kế hoạch thường chứa đựng các nội dung: (a) xác định, hình thành mục tiêu đối 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với tổ chức; (b) xác định và đảm bảo về các điều kiện, nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu; (c) quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đã đề ra. Để lập kế hoạch, thường phải trả lời 9 câu hỏi tương đương với chín bước sau: Bước 1: Mục tiêu của tổ chức là gì? Tức là xác định và bám sát các mục tiêu của tổ chức trong quá trình lập kế hoạch. Bước 2: Tổ chức đang làm gì để đạt được mục tiêu đó? Liệt kê những việc tổ chức đang làm.
Phân tích những việc đó xem việc nào trùng hướng, việc nào lệch hướng, việc nào chưa hướng tới mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Bước 3: Những yếu tố nào tác động đến hoạt động của tổ chức? Chỉ ra những yếu tố có thể tác động đến hoạt động của tổ chức, và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó. Bước 4: Tổ chức có thể làm được những gì với nguồn lực hiện có? Phân tích nguồn lực của tổ chức (gồm nhân lực, vật lực, tài lực), từ đó chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu của tổ chức.