Phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác học sinh tại trường trung cấp chuyên nghiệp. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác học sinh tại Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Lạng Sơn. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác học sinh tại Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC HỌC SINH TẠI TRƢỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Trên cơ sở các văn bản pháp quy của nhà nước, quy chế công tác học sinh, sinh viên của Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 về việc ban hành Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy; học sinh, sinh viên nội trú; ngoại trú, các văn bản thực hiện chế độ, chính sách cho học sinh, sinh viên. Công tác học sinh, sinh viên là một trong những nội dung quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhà trường. Từ đó, đã có nhiều học viên cao học quan tâm, nghiên cứu, như luận văn thạc sĩ: “Các biện pháp tăng cường quản lý công tác sinh viên, học sinh tại Trường Đại học dân lập Văn Lang” của tác giả Bạch Thanh Sơn đề cập đến một số biện pháp tăng cường quản lý công tác học sinh, sinh viên tại Trường Đại học dân lập Văn Lang, năm 2008; Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục “Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý sinh viên tại Viện đại học Mở Hà Nội” của tác giả Lương Tuấn Long.
Đề cập đến một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý sinh viên tại Viện đại học Mở Hà Nội, năm 2008; Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục “Quản lý học sinh, sinh viên của phòng công tác học sinh - sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông Lâm Đông Bắc” của tác giả Trịnh Thị Thu Ngọc, đề cập đến một số biện pháp quản lý học sinh, sinh viên ở Trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Đông Bắc, năm 2009; Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục “Những biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của Trường ĐH Hồng Đức trên địa bàn Thành phố Thanh Hoá” của tác giả Nguyễn Văn Hoà, đề cập đến những biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường ĐH Hồng Đức Thành phố Thanh Hoá. Những tài liệu trên của các tác giả đã bước đầu nghiên cứu về cơ sở lý luận, thực tiễn và đưa ra các biện pháp thực tế theo từng địa phương khác nhau về quản lý công tác học sinh, sinh viên trong một số trường đại học, cao đẳng. Trong khi đó quản lý công tác học sinh tại Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Lạng Sơn chưa có tác giả nào đầu tư nghiên cứu. Vì vậy tác giả mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này.
Trong luận văn, tác giả tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận trong xu hướng đổi mới quản lý giáo dục, phân tích thực trạng quản lý công tác học sinh tại Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh Lạng Sơn từ đó đề ra một số biện pháp quản lý nhằm thực hiện tốt quản lý công tác học sinh góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường và đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay. Những khái niệm công cụ của đề tài. Khái niệm quản lý. Trong lý luận và thực tiễn có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý.
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, 1998, Thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: "Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Hoặc Từ điển tiếng Việt (Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.772) “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”. Trong khía cạnh khác “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Như vậy, thuật ngữ “quản lý” gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “quản” tức là gốc của sự coi sóc, gìn giữ, duy trì hệ ở trạng thái “Ổn định”, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào trạng thái “phát triển”.
Nếu người đứng đầu chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ bị trì trệ. Tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức sẽ không bền vững. Tóm lại, để động thái của hệ ở thế cân bằng, tức là hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong “nội lực” và các nhân tố bên ngoài “ngoại lực” thì trong “quản" phải có “lý” và ngược lại trong “lý” phải có “quản”. Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” [34, tr.
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn, quản lý được hiểu như sau: “Quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường” [38, tr. Những quan niệm trên về quản lý có phần không giống nhau nhưng đều có điểm thống nhất về bản chất của hành động quản lý, đó là: sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng bị quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước. Quản lý không phải sự tác động một chiều của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, mà là sự tác động qua lại biện chứng giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Quản lý là một môn khoa học, đồng thời nó còn là một "nghệ thuật" đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt tới mục đích. Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [31, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Chức năng quản lý. Quản lý là một quá trình mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý bằng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Như vậy, chức năng quản lý bao gồm 4 chức năng: Kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. - Chức năng kế hoạch hóa: kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch là: (a) xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức, (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này, (c) quyết định xem những hành động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. - Chức năng tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành những hành động thực tiễn. Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Người quản lý phải điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức.
- Lãnh đạo (chỉ đạo): Sau khi kế hoạch được thành lập, cơ cấu bộ máy được hình thành, nhân sự được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. - Kiểm tra: Kiểm tra là một hoạt động quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động.
+ Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra. + Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sự sai lệch. + Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần. Các chức năng trên luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau được thể hiện trong sơ đồ sau: Sơ đồ: 1.1: Các chức năng trong quá trình quản lý Kế hoạch hóa Kiểm tra Thông tin Tổ chức Quản lý Chỉ đạo Ngoài bốn chức năng quản lý trên, nguồn thông tin quản lý là yếu tố cực kỳ quan trọng trong quản lý.
Vì thông tin là nền tảng, là huyết mạch của quản lý, không có thông tin thì không có quản lý hoặc quản lý mắc sai phạm, nhờ có thông tin mà sự trao đổi qua lại giữa các chức năng được cập nhật thường xuyên, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả. Quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng trong quản lý xã hội. Theo cấp độ quản lý Nhà nước, quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong xã hội.