CHƯƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 1. Một số khái niệm liên quan 1. Chương trình đào tạo Chương trình đào tạo thể hiện trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình [18].
Chương trình đào tạo được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp [18]. Theo Wentling (1993), chương trình đào tạo là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo. Hoạt động đó có thể chỉ là một khóa đào tạo kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm. Bản thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì người học có thể đạt được sau khi tham gia chương trình.
Mặt khác chương trình đào tạo còn phác họa ra qui trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ. Theo Thông tư 04/2016/TT-BGDĐT, chương trình đào tạo bao gồm: mục tiêu, chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học cần đạt được sau khi tốt nghiệp; nội dung, phương pháp và hoạt động đào tạo; điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của đơn vị được giao nhiệm vụ triển khai đào tạo ngành học đó [24]. Như vậy, khái niệm chương trình đào tạo được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nhưng về cơ bản đều xem chương trình đào tạo chính là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo trong một khuôn khổ thời gian. Chất lượng chương trình đào tạo 1.
Chương trình Chương trình: Theo các chuyên gia GD, việc nghiên cứu CT là một trong những lĩnh vực nghiên cứu khó khăn và phức tạp của GD. CT thay đổi theo sự phát triển của xã hội và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như người học, người dạy, 10 người tuyển dụng lao động, các tổ chức tôn giáo, chính trị. nên có nhiều quan niệm khác nhau và làm các khái niệm này trở nên phức tạp. Tùy vào cách lý giải người ta có thể hiểu và định nghĩa CT khác nhau.
Theo các chuyên gia GD trên thế giới sử dụng, nhất là định nghĩa của Hollis L. Caswell và Doak S. Bản thiết kế tổng thể đó cho ta biết nội dung ĐT, nó cũng cho ta biết các phương pháp ĐT và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ” [31]. Theo điều 41 của Luật GD: Chương trình thể hiện mục tiêu giáo dục ĐH; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung GDĐH, phương pháp và hình thức ĐT, cách thức đánh giá kết quả ĐT đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ ĐT của GDĐH, đảm bảo yêu cầu liên thông với các CT khác.
Ở Việt Nam, khái niệm “chương trình khung” chỉ mới xuất hiện lần đầu tiên trên Luật giáo dục (1998), với việc Quốc hội thông qua Luật Giáo dục, phương thức quản lý chương trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo được điều chỉnh theo hướng tăng thêm trách nhiệm quản lý ở cấp Bộ, không chỉ quy định đến khung chương trình mà phải nắm đến tận chương trình khung của tất cả các ngành đào tạo. Khái niệm liên quan đến “chương trình khung” gồm: Khung chương trình: Theo Bộ GD&ĐT, khung chương trình là văn bản nhà nước quy định khối lượng kiến thức tối thiểu và cơ cấu kiến thức cho các chương trình đào tạo. Khung chương trình xác định sự khác biệt về chương trình tương ứng với các trình độ đào tạo khác nhau. Chương trình khung: Theo Bộ GD&ĐT, CT khung là văn bản Nhà nước ban hành cho từng ngành ĐT cụ thể, trong đó quy định cơ cấu nội dung môn học, thời gian giữa các môn học cơ bản và chuyên môn, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập.
Nó bao gồm khung CT cùng với những nội dung cốt lõi, ít thay đổi theo thời gian và được các trường có ĐT đều thừa nhận là không thể thiếu được. Căn cứ vào CT khung, các trường ĐH xây dựng CT của trường mình. Khác với chương trình khung, chương trình đào tạo có thể hàm chứa kiến thức từ một ngành hoặc từ một số ngành. Trong phạm vi đề tài hiểu: “Chương trình là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt 11 động ĐT bao gồm các thành phần chính là mục tiêu, nội dung, thời lượng ĐT, các yêu cầu của CT, hướng dẫn thực hiện CT và các đề cương môn học…”.
Chương trình đào tạo Thuật ngữ “chương trình đào tạo” ở Việt Nam thường được hiểu theo 2 nghĩa. Nghĩa thứ nhất là CTĐT là một văn bản quy định mục tiêu đối với một ngành ĐT, các khối kiến thức, các môn học, thời lượng dành cho mỗi môn học mà nhà trường tổ chức để giảng dạy hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho người học theo học một ngành học nào đó. Nội hàm của thuật ngữ chương trình ngày càng được mở rộng, bao gồm tất cả các môn học. Tuy nhiên, tất cả các tài liệu, các quan niệm đều thống nhất tất cả các môn học trong nhà trường được quy định là CT của nhà trường.
Quan niệm khác lại đưa ra định nghĩa “CT là tất cả kiến thức dự kiến mà nhà trường có tránh nhiệm giảng dạy”. Những người tiêu biểu của quan niệm này là Daniel Tanner và Lauren N. Hạn chế của định nghĩa này là “tất cả kiến thức dự kiến” mà nhà trường giảng dạy có thể không phải là cái mong muốn nhất. Những kiến thức dự kiến có phản ánh tính thực tế và CT được xây dựng dựa trên những cơ sở nào còn là dấu hỏi lớn mà định nghĩa không phản ánh.
Định nghĩa này cũng không đề cập đến hoạt động học tập của người học [8; 30]. Theo tác giả Nguyễn Hữu Chí định nghĩa về CT như sau “Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một bản kế hoạch tổng thể các hoạt động GD trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập… nhằm đạt được mục tiêu học tập đã đề ra”. Trong quan điểm này, CT là văn bản thiết kế cho hoạt động ĐT. CTĐT là CT được tiến hành với các hoạt động ĐT (giảng dạy và học tập) thì kết quả dự kiến của CT được thể hiện [8].
Theo quy chế ĐT đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, Điều 2 Chương trình đại học: 1. Chương trình GDĐH (sau đây gọi tắt là CT) thể hiện mục tiêu GDĐH, phương pháp và hình thức ĐT, cách thức đánh giá kết quả ĐT đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ ĐT của GDĐH. Quy định về CT trên mới chỉ thể hiện hình thức, yêu cầu đối với một CT ĐH [3]. 12 Như vậy, quan niệm về CTĐT được hiểu theo nghĩa thứ nhất tương đối phong phú và đa dạng, phản ánh sự phức tạp của CT.
Tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi, CTĐT (Curriculum) thường phản ánh những khía cạnh sau: đối tượng ĐT; mục tiêu ĐT; phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung ĐT; các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức giảng dạy và học tập; hệ thống đánh giá kết quả học tập; kết quả học tập: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Thuật ngữ CTĐT được hiểu theo nghĩa thứ 2, đó là nội dung, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của một đơn vị ĐT (thường là cấp khoa hoặc bộ môn tùy theo cơ cấu tổ chức của từng đơn vị) đang triển khai để ĐT một ngành học trong một bậc học nhất định, thường được ký hiệu bằng mã ngành, thuật ngữ này tương đương với thuật ngữ tiếng Anh “training program”. Theo nghĩa thứ hai, CTĐT là khóa ĐT. Với nghĩa này, CTĐT trở thành một yếu tố đầu vào để thực hiện CT.
Để thực hiện CTĐT đòi hỏi phải có những yếu tố đầu vào, thực hiện CT (các hoạt động dạy và học, đảm bảo chất lượng thực hiện CT…), kết quả đầu ra của CT. Những yếu tố đầu vào CTĐT bao gồm: người dạy, người học, tài chính… Quá trình thực hiện CT bao gồm: các hoạt động dạy và học: hoạt động đảm bảo chất lượng thực hiện CT… Kết quả đầu ra của CT: đó là kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp của người học sau khi học xong CTĐT. Đề tài khái quát về CTĐT được hiểu là văn bản quy định mục đích và các mục tiêu cụ thể đặt ra cho mỗi ngành ĐT, các khối kiến thức và môn học, tổng thời lượng và thời lượng dành cho mỗi môn để trang bị các kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho SV theo một ngành nào đó. CTĐT là căn cứ để xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ, xây dựng giáo trình, tài liệu, lập dự trù kinh phí, xây dựng CSVC.
đồng thời cũng là căn cứ để giám sát, kiểm tra, thanh tra, đánh giá kết quả ĐT và phê duyệt văn bằng tốt nghiệp. Chất lượng chương trình đào tạo là sự đáp ứng mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo ở trình độ cụ thể, đáp ứng yêu cầu theo quy định của Luật giáo dục đại học và của Khung trình độ quốc gia, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực của địa phương, của ngành và xã hội [16]. Chất lượng chương trình đào tạo 13 Theo giáo sư Glen Jones - Viện nghiên cứu giáo dục - Đại học Tổng Hợp Toroto, Canada: “Theo quan niệm truyền thống của nhiều trường chất lượng đào tạo chủ yếu được đánh giá qua năng lực của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong trường. có nghĩa là trường nào có đội ngũ Giáo sư tiến sĩ nhiều, có uy tín khoa học thì được xem là trường có chất lượng đào tạo cao.