phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về dạy học mô đun theo quan điểm tích hợp. Chƣơng 2: Khảo sát thực trạng dạy học mô đun Hàn nâng cao theo quan điểm tích hợp tại Trƣờng Cao đẳng nghề TP. Chƣơng 3: Dạy học mô đun Hàn nâng cao theo quan điểm tích hợp tại Trƣờng Cao đẳng nghề TP. 5 PHẦN N I DUNG hƣơng 1: Ơ SỞ LÍ LUẬN VỀ Y Ọ MÔ UN T EO QUAN QUAN ỂM TÍ ỢP 1.
LỊ SỬ VẤN Ề N ÊN ỨU 1. Trên Thế giới Việc tiếp cận năng lực của ngƣời học là một trong những yếu tố quan trọng nhất nhằm phát triển tiềm năng của mọi ngƣời. Mỹ là một trong những nƣớc sử dụng mô đun sớm nhất trong việc đào tạo công nhân của nƣớc nhà, qua đó thuận tiện cho việc làm trong các dây chuyền ô tô của các hãng General Motor và Ford vào những năm hai mƣơi của thế kỷ 19. Để đáp ứng yêu cầu sản xuất theo kiểu Taylor (vốn thống trị thời bấy giờ), công nhân đƣợc đào tạo với thời gian 2 - 3 ngày với những trang thiết bị phù hợp với công việc.
Ngƣời học đƣợc học với nội dụng vừa đủ, phù hợp với công việc, và đƣợc làm quen với với mục tiêu công việc do chính công ty yêu cầu. Ở Đức, những nghiên cứu về dạy học dựa trên tâm lí học hành động cũng đã nêu ra những cơ sở về hoạt động học tập mang lại hiệu quả và tính tích cực cho ngƣời học, hoạt động này góp phần hình thành nên ở ngƣời dạy cách thức để hƣớng ngƣời học hoạt động theo con đƣờng đạt đƣợc mục đích chiếm lĩnh tri thức khoa học. Một trong những nghiên cứu này là Handlungsorientierung. Về sau phƣơng pháp này đã đƣợc phát triển rộng rãi ở Anh và một số nƣớc Tây Âu vì tính thực tiễn cao, tiết kiệm thời gian và kinh phí đào tạo.
UNESCO và ILO là hai tổ chức quốc tế không chỉ tạo điều kiện mà còn khuyến khích cho việc phát triển các nhóm mô đun trong đào tạo nghề nói riêng và đào tạo nói chung. Tại Paris, các chuyên gia cho rằng: sử dụng mô đun “là thích hợp và cần thiết cho mọi đối tƣợng đào tạo, đặc biệt cho giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp và trong việc phổ biến kĩ thuật mới” và khuyến cáo các nƣớc đang phát triển khi đầu tƣ tổng thể cho giáo dục còn hạn chế thì nên quan tâm đến việc đào tạo trên thế giới không nên “sa đà” vào việc tranh cãi, duy danh thuật ngữ mà nên triển khai áp dụng và từ đó rút kinh nghiệm. 6 Từ đào tạo theo mô đun kĩ năng hành nghề (Modules of employable skills - MES) đến đào tạo theo mô đun theo hƣớng tích hợp. Đề cƣơng năm 1973 tổ chức lao động thế giới ILO đã đề xuất phƣơng thức đào tạo theo mô đun (MES = phƣơng thức đào tạo nghề theo công việc / kĩ năng hành nghề) nên bị phê phán là hẹp, thiển cận không đủ đáp ứng về trình độ.
Những yếu tố lí thuyết chỉ dừng ở mức thấp không đủ để đạt trình độ phân tích, hiểu và giải quyết vấn đề do vậy đề cƣơng năm 1992 ra đời tính đến việc đào tạo theo năng lực và trình độ. Tại Việt Nam Từ những thập niên 60, ngành giáo dục Việt Nam đã tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến trên thế giới cụ thể nhƣ: Tích cực chủ động sáng tạo, lấy ngƣời học làm trung tâm, tạo điều kiện cho ngƣời học tƣ duy sáng tạo, nêu và giải quyết vấn đề, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Năm 1986 Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề, với sự tài trợ của UNESCO đã tổ chức hội thảo về phƣơng pháp soạn nội dung đào tạo nghề, và đã đề cập đến việc đào tạo nghề theo mô đun ở một số nƣớc đang phát triển trên thế giới. Sau đó, năm 1990 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức một cuộc hội thảo với sự tài trợ của ILO nhằm tìm hiểu khả năng ứng dụng phƣơng thức đào tạo nghề theo mô đun (MES) ở Việt Nam.
Tháng 5-1992, Trung tâm Phƣơng tiện kĩ thuật dạy nghề (CREDEPRO) cũng đã tổ chức cuộc hội thảo về phƣơng pháp tiếp cận đào tạo nghề MES với tài trợ của UNDP. Trong thời gian những năm 1987 - 1994, một số Trung tâm dạy nghề, dƣới sự chỉ đạo của Vụ dạy nghề đã thử nghiệm biên soạn tài liệu và đào tạo nghề ngắn hạn theo mô đun. Sau đó thì việc đào tạo nghề theo mô đun MES tạm thời lắng xuống vì những mặt hạn chế của nó. Khi đề cƣơng của ILO năm l993 báo cáo lại hƣớng tới mô đun năng lực thì tình hình đổi khác.
Trong Dự án Giáo dục kĩ thuật và Dạy nghề đã nghiên cứu, xây dựng và ứng dụng bƣớc đầu những tƣ tƣởng mới của việc đào tạo nghề theo mô đun năng lực thƣc hiện và trình độ. Tuy cũng đã có vài công trình nghiên cứu khoa học đi sâu nghiên cứu vấn đề dạy học theo hƣớng tích hợp nhƣ đề tài nhƣ: + Năm 1993 GS. Nguyễn Minh Đƣờng đã làm sáng tỏ bản chất, cách tiếp cận và áp dụng mô đun kĩ năng nghề trong đào tạo nghề qua đề tài “Mô đun kĩ năng hành nghề - Phương pháp tiếp cận hướng dẫn biên soạn và áp dụng” [9]. Nguyễn Đức Trí (chủ nhiệm đề tài), cùng tập thể các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu và Phát triển giáo dục đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng phương thức đào tạo nghề theo mô đun kĩ năng hành nghề”.
Qua đó, có thể đánh giá đây là đề tài nghiên cứu ứng dụng về kĩ năng hành nghề một cách đầy đủ, hoàn thiện nhất. Đề tài đã góp phần làm rõ cơ sở khoa học tiếp cận và ứng dụng kĩ năng hành nghề, góp phần vào việc đổi mới phƣơng pháp dạy học, chƣơng trình trong đào tạo nghề [14]. Xu thế dạy học ngày nay nói chung, đặc biệt là lĩnh vực dạy nghề nói riêng, chƣơng trình dạy nghề đƣợc xây dựng dựa trên các mô đun tiếp cận năng lực trong đó tổ hợp các năng lực cần thiết (kiến thức, kĩ năng, thái độ) mà ngƣời lao động cần phải có để tham gia lao động sản xuất tại các nhà máy, xí nghiệp. Chƣơng trình đào tạo đƣợc thiết kế theo mô đun tiếp cận năng lực nhƣ vậy còn đƣợc gọi là giáo dục định hướng kết quả đầu ra.
Hiện nay, mô hình năng lực cũng đã bắt đầu nhận đƣợc sự quan tâm và đƣợc sử dụng trong những nỗ lực phát triển nguồn nhân lực trong xu thế mở cửa hội nhập của đất nƣớc. Xuất phát từ đó nhiều hội thảo lần lƣợt diễn ra nhƣ: Hội thảo về “Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề - kinh nghiệm của Bỉ và Việt Nam” đƣợc tổ chức hồi tháng 8 năm 2009 và các Hội thảo chuyên đề “Đổi mới phương pháp dạy học trong lĩnh vực dạy nghề”, “chuẩn nghề nghiệp giáo viên dạy nghề”, ngày 10/7/2009, tại TP. Đà Nẵng, Dự án VN 101, Tổng cục dạy nghề (Bộ LĐTB-XH) - phối hợp với Hiệp hội thúc đẩy giáo dục và đào tạo ở nƣớc ngoài (APEFE) tổ chức Hội thảo “Tổ chức dạy nghề tích hợp - kinh nghiệm của Bỉ và Việt Nam”[5]. Nhận xét: Tất cả việc nghiên cứu trên đi sâu vào tìm hiểu cơ sở lí luận dạy học tích hợp, thực trạng dạy – học tại các các trƣờng Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề và tiến hành dạy thực nghiệm.
Qua đó, góp phần to lớn vào việc mở đƣờng cho việc ứng dụng phƣơng thức đào tạo theo mô đun và tổ chức dạy học theo hƣớng tích hợp ở Việt Nam. Việc nghiên cứu – vận dụng quan điểm dạy học tích hợp đƣợc phát triển mạnh ở giai đoạn sau này. Vì thế, trong đào tạo nghề nói riêng, giáo dục nghề nghiệp nói chung ở Việt Nam đang còn nhiều vấn đề phải nghiên cứu. Tích hợp: Theo từ điển tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng.
Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”. Trong tiếng Anh, tích hợp đƣợc viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”. Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy. Theo từ điển giáo dục học, quan niệm tích hợp đƣợc trình bày nhƣ sau: “ Là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”.
Trong đó, kế hoạch giảng dạy là một phạm trù rộng lớn bao gồm từ chƣơng trình đến môn học, bài học. Tích hợp ngang là tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tƣợng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề [17, 385]. Tích hợp kiến thức là hành động liên kết, nối liền các tri thức khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất [17, 385]. Tích hợp kĩ năng là hành động liên kết rèn luyện hai hoặc nhiều kĩ năng thuộc cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực gần nhau để nắm vững một thể [17, 385].
Tích hợp chương trình là sự liên kết, hợp nhất nội dung các môn học có nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung gần gũi nhau. Tích hợp chƣơng trình làm giảm bớt số môn học, loại bớt đƣợc nhiều phần kiến thức trùng hợp nhau, tạo điều kiện để nâng cao chất lƣợng và hiệu quả đào tạo. Tích hợp các bộ môn là quá trình xích lại gần và liên kết các ngành khoa học lại với nhau trên cơ sở của những nhân tố, những quy luật giống nhau, chung cho các bộ môn, ngƣợc lại với quá trình phân hóa chúng. 9 Theo Dƣơng Tiến Sỹ: “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức (khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [11, 27] Nhận xét: Trong công tác đào tạo nghề, tích hợp đƣợc coi là sự liên kết các đối tƣợng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch để đảm bảo đƣợc sự thống nhất nhằm đạt tới mục tiêu dạy học.
Đƣa tƣ tƣởng sƣ phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần thiết. Dạy học tích hợp là một xu hƣớng của lí luận dạy học và đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới thực hiện.