Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC HOÀ TẤU DÀN NHẠC TẠI NHÀ HÁT CHÈO VIỆT NAM 1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 1. Dàn nhạc chèo Theo các nhà nghiên cứu, Dàn nhạc chèo là một khái niệm mới xuất hiện. Trong nghệ thuật chèo truyền thống, cha ông chúng ta không dùng thuật ngữ “dàn nhạc” mà chỉ tập hợp một số nhạc cụ lại với nhau rồi cùng “tấu” lên theo những phương thức riêng, không giống với phương thức diễn tấu của các dàn nhạc phương Tây.
Bàn về vấn đề này, nhạc sĩ Trần Vinh có nêu: “Khái niệm dàn nhạc chèo cũng mới hình thành nửa thế kỷ qua - trước đây, cha ông ta khi đệm, tòng cho hát cũng chỉ lấy có bộ gõ là cơ bản rồi về sau mới thêm nhạc khí - nhị, sáo đưa vào”[37; 319]. Như vậy, trong nghệ thuật chèo truyền thống, xưa, các nhạc khí có chức năng chủ yếu là “đệm tòng” cho hát, tức là theo hát. Ngoài ra, dàn nhạc còn có chức năng phụ hoạ làm nền cho những tình huống sân khấu. Tuy nhiên âm nhạc lúc này chưa có tính độc lập với đúng nghĩa của nó.
Chỉ từ khi có sự tham gia của những đoạn nhạc nền hoà tấu không lời do các nhạc sĩ chuyên nghiệp sáng tác thì dàn nhạc chèo dường như mới thực sự có tiếng nói độc lập. Từ cơ sở nêu trên, chúng tôi xin nêu một khái niệm về dàn nhạc chèo như sau: Dàn nhạc chèo là một tập hợp các nhạc khí dân tộc cùng tham gia hoà tấu nhạc đệm cho hát chèo và diễn tấu các đoạn nhạc phụ trợ cho nội dung kịch bản, hành động sân khấu chèo. Nói đến dàn nhạc chèo là liên quan đến sự tham gia của các nhạc khí thuộc các tổ, bộ khác nhau như bộ dây bao gồm các nhạc khí dây gảy, dây kéo và dây gõ (Tam thập lục); bộ hơi như Sáo ngang, Tiêu; bộ gõ bao gồm các loại trống, Mõ, Phèng la, Tiu, Cảnh, Phách. Dàn nhạc chèo có thể hoà 8 tấu nhạc không lời hoặc đệm cho hát chèo.
Dàn nhạc chèo là một bộ phận không thể thiếu trong nghệ thuật chèo. Hoà tấu dàn nhạc chèo Về khái niệm hoà tấu. Cuốn Từ điển tiếng Việt chỉ giải nghĩa khái niệm hoà tấu một cách đơn giản, ngắn gọn, hoà tấu là: “cùng biểu diễn một bản nhạc” [35; 576]. Như vậy, yếu tố cơ bản của khái niệm hoà tấu là chỉ hoạt động cùng tham gia biểu diễn, trình diễn một tác phẩm âm nhạc của một số người, một nhóm người hay nhiều người.
Từ khái niệm hoà tấu có thể liên hệ tới khái niệm hoà tấu dàn nhạc chèo như sau: Hoà tấu dàn nhạc chèo là hoạt động của nhiều người cùng tham gia diễn tấu phần nhạc đệm cho hát chèo và các đoạn nhạc không lời, có lời nhằm phụ hoạ cho nội dung kịch bản và hành động của nhân vật trên sân khấu chèo. Với khái niệm nêu trên, có thể thấy, hoà tấu dàn nhạc chèo có hai dạng mang hai chức năng rõ rệt, đó là tham gia đệm cho hát và hoà tấu nhạc phụ hoạ cho nội dung, hành động của sân khấu chèo. Ứng tấu và thị tấu 1. Ứng tấu trong dàn nhạc chèo Ứng tấu là một phương thức khá phổ biến trong một số thể loại âm nhạc của các dân tộc trên thế giới nói chung và trong âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam nói riêng.
Theo Từ điển tiếng Việt, ứng tấu là: “chơi nhạc theo cảm hứng mới nảy sinh, không theo bản nhạc viết sẵn” [35; 1395]. Trong âm nhạc chèo truyền thống, khái niệm ứng tấu được hiểu là công việc mà người nghệ nhân nhạc công chỉ dựa vào hơi, làn điệu, tiết tấu, nhịp điệu của các điệu hát mà diễn viên thể hiện trên sân khấu để chơi “tòng” theo. Khi làm nền cho hành động của các nhân vật trên sân khấu, nhạc công cũng chơi nhạc với phương thức ứng tấu tức là ngẫu hứng tại chỗ là chủ yếu. Các 9 câu nhạc, đoạn nhạc do nhạc công ứng tấu không được viết sẵn ra trên tổng phổ dàn nhạc giống như trong hoà tấu dàn nhạc giao hưởng của âm nhạc phương Tây.
Người nhạc công trong dàn nhạc chèo luôn phải biết phản ứng nhanh đối với các tình huống trên sân khấu, thậm chí là những tình huống nằm ngoài dự định. Chẳng hạn, trước khi vào hát, thông thường, nhạc công dạo một đến hai câu nhạc thì diễn viên vào ngâm hay hát, nhưng vì một “trục trặc” nào đó, người diễn viên chưa hát thì người nhạc công phải biết ứng tấu tại chỗ, tức là, dạo thêm ba hay bốn câu nhạc làm sao không để cho diễn viên bị hụt hẫng và tiếp tục diễn một cách thoải mái tự nhiên. Biểu hiện rõ nhất về ứng tấu, trước hết phải kể đến vai trò của bộ gõ trong dàn nhạc chèo. Bộ gõ luôn phải luôn theo sát từng hành động, cử chỉ của các nhân vật trên sân khấu.
Bộ gõ thường đảm nhiệm vai trò chơi ngẫu hứng tiết tấu theo tính cách của các nhân vật. Hành động của nhân vật thế nào thì người chơi trống phải minh họa như vậy. Chẳng hạn, khi cần khắc hoạ tâm trạng xáo động, đầy căng thẳng của nhân vật Suý Vân trong màn Suý Vân giả dại (vở chèo Suý Vân) tất các các nhạc khí khác đã phải nhường chỗ cho bộ gõ. Ở màn diễn này, các nghệ nhân nhạc công đảm nhiệm bộ gõ đã phát huy được hết khả năng ứng tấu nhạc nền của mình theo phương thức dân gian truyền thống.
Vai trò của dàn nhạc nói chung trong ứng tấu cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, với một đoạn nhạc nền phục vụ cho chuyển cảnh chỉ khoảng 10 đến 20 giây, nhưng có lúc, trên sân khấu chuyển xong trước, ngược lại, có hôm, do lỗi kỹ thuật không chuyển cảnh kịp, lúc này người chỉ huy và các nhạc công trong dàn nhạc phải “phản ứng” tại chỗ để có thể cắt ngắn hoặc kéo dài thêm phần nhạc nền cho khớp với phần biểu diễn trên sân khấu của diễn viên. Tóm lại, ứng tấu là một phương thức quan trọng trong dàn nhạc chèo. Xưa kia, có khi chỉ cần vài ba cây đàn với bộ gõ là các nghệ nhân nhạc công đã có thể chơi nhạc ứng tấu phục vụ cho các vở chèo.
Tuy nhiên, ứng tấu đòi 10 hỏi kinh nghiệm và “vốn liếng”của người nhạc công chèo phải tương đối phong phú.TS Nguyễn Thị Nhung: Các nhạc công chèo chẳng bao giờ có bản nhạc bởi lẽ họ đã thuộc các làn điệu Chèo, nắm vững tính chất của từng vai để cùng với diễn viên thể hiện nhân vật. Tuy nhiên, khi diễn tấu, họ đã tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc có tính cơ bản nhất, trong đó có những khoảng trống dành cho sự sáng tạo của từng nhạc công [28; 53]. “Khoảng trống” mà PGS.TS Nguyễn Thị Nhung nói tới, theo chúng tôi hiểu, chính là ứng tấu. Như vậy, ứng tấu vừa mang tính ngẫu hứng vừa dựa trên một số nguyên tắc nhất định được các nghệ nhân chèo đặt ra và tuân thủ.
Thị tấu Thị tấu là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong âm nhạc nói chung và lĩnh vực hoà tấu dàn nhạc nói riêng. Khái niệm thị tấu được hiểu là việc người nhạc công khi độc tấu (solo) hoặc tham gia hoà tấu dàn nhạc thường nhìn vào bản nhạc được viết sẵn và thể hiện ngay tức thì, đáp ứng được yêu cầu nhất định của tác phẩm và nhu cầu thực tế đặt ra. Như vậy, khác với khái niệm ứng tấu, thị tấu luôn gắn liền với các bài bản, tác phẩm âm nhạc được viết sẵn và được cố định các nguyên tắc, kỹ thuật, cách thể hiện. Bởi, có bản nhạc viết sẵn thì mới nảy sinh hình thức thị tấu tức là nghệ sĩ, nhạc công nhìn vào bản nhạc và diễn tấu tức thì, chưa qua tập luyện trước.
Trong hoà tấu dàn nhạc chèo, đặc biệt là đối với các đoạn nhạc nền, nhiều lúc, do yêu cầu về thời gian và các yêu cầu khác đòi hỏi người nhạc công phải có năng lực thị tấu tốt. Chẳng hạn, khi nhạc sĩ sáng tác xong phần nhạc nền của vở diễn và đưa ra dàn dựng cho dàn nhạc thì các nhạc công phải thực hiện được nhanh các bản phân phổ ngay tại chỗ và phối hợp được với các bè khác trong dàn nhạc kết hợp với sự hướng dẫn chung của người dàn dựng chỉ huy (nhạc trưởng). Thị tấu đòi hỏi ở người nhạc công nhiều yếu tố, 11 trong đó, yếu tố kỹ thuật cá nhân, khả năng nhìn, đọc nhạc nhanh, chính xác và hiểu được các thuật ngữ sắc thái biểu cảm của tác phẩm. Phối khí Theo nhạc sĩ - NSND Trần Qúi “phối khí - định nghĩa đơn giản là sự phối hợp các nhạc khí cùng diễn tấu” [31; 156].
Tuy nhiên, với quan niệm mà tác giả đưa ra, cần hiểu khái niệm phối khí một cách sâu sắc và rộng hơn, đó là một công việc đòi hỏi sự sáng tạo của người nhạc sĩ trong việc sử dụng các kỹ thuật, âm sắc, tính năng, đặc tính của các nhạc cụ trong dàn nhạc nhằm thể hiện các ý tưởng âm nhạc, làm nổi bật tính chất âm nhạc, nội dung tư tưởng của tác phẩm âm nhạc. Ngoài ra, phối khí còn bao gồm cả các thủ pháp, kỹ thuật tiết chế âm lượng của các nhạc cụ trong dàn nhạc. Chẳng hạn, cần giảm âm lượng hay tăng cường âm lượng, hoặc phối “dày” hay phối “mỏng” hay sử dụng, phối hợp âm sắc của nhạc cụ này với nhạc cụ kia cho hợp lý và đạt hiệu quả cao là hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực của nhạc sĩ phối khí. Như vậy, có thể thấy, phối khí rất quan trọng.
Do đó, nghiên cứu nghệ thuật hoà tấu dàn nhạc và dạy học hoà tấu dàn nhạc cần chú trọng đến các thủ pháp phối khí của tác phẩm. Với quan điểm này, trong luận văn chúng tôi sẽ xem xét một số thủ pháp phối khí tiêu biểu trong phần nhạc nền của vở chèo Suý Vân do nhạc sĩ Hoàng Kiều sáng tác, nhằm trang bị thêm cho học sinh nhạc công chèo những kiến thức cần thiết trong quá trình dạy học môn hoà tấu nhạc nền tại Nhà hát Chèo Việt Nam. Phương pháp, dạy học và phương pháp dạy học 1. Phương pháp Theo Từ điển mở wikitionary, phương pháp là “lề lối và cách thức tiến hành công tác với kết quả tốt nhất” [38].
Cuốn Từ điển tiếng Việt giải nghĩa phương pháp là: “cách thức nghiên cứu, nhìn nhận các hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội”.