Tổng quan luận án

Sự phát triển và mở rộng các quan hệ giao lưu, hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hóa, khoa học và giáo dục đã và đang tác động sâu sắc đến hệ thống giá trị xã hội tại Việt Nam, trong đó có hệ giá trị thẩm mỹ. Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã khẳng định tính cấp bách của việc xây dựng, giữ gìn và phát huy hệ giá trị tốt đẹp về thị hiếu thẩm mỹ trong quá trình phát triển con người Việt Nam toàn diện. Giáo dục đại học giữ sứ mệnh hình thành nguồn nhân lực toàn diện, đòi hỏi không chỉ trang bị chuyên môn nghề nghiệp mà còn phải bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống và thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh.

Tuy nhiên, đời sống thẩm mỹ của giới trẻ và sinh viên đang có nhiều diễn biến phức tạp. Quá trình giao lưu văn hóa đa dạng mang lại cả những tác động tích cực lẫn tiêu cực. Một bộ phận sinh viên xuất hiện xu hướng chạy theo thị hiếu tầm thường, lối sống thực dụng, vị kỷ, có nhận thức lệch lạc về các phạm trù thẩm mỹ như cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, đồng thời thiếu khả năng tự phòng ngừa trước những sản phẩm phản nghệ thuật. Trong bối cảnh đó, nghệ thuật với tư cách là hình thái biểu hiện đặc trưng của quan hệ thẩm mỹ giữ vai trò là cầu nối định hướng thị hiếu, bồi dưỡng mỹ cảm và hoàn thiện nhân cách sinh viên.

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, chỉ ra vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên, góp phần xây dựng và phát triển thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên ở nước ta hiện nay trước yêu cầu xây dựng con người phát triển toàn diện.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ.
  2. Nghiên cứu và trình bày những vấn đề lý luận cơ bản của nghệ thuật và thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, làm rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ thông qua việc phân tích vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ.
  3. Nghiên cứu, điều tra, tổng hợp và phân tích thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở Việt Nam hiện nay.
  4. Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở Việt Nam hiện nay trên bình diện triết học.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về mặt lý luận: Khía cạnh triết học của nghệ thuật và một số nội dung cơ bản của vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ chủ yếu trên lập trường của mỹ học mácxít; phân tích mối liên hệ giữa nghệ thuật với quá trình giáo dục thị hiếu thẩm mỹ nhằm chỉ ra vai trò của nghệ thuật trong xây dựng thị hiếu thẩm mỹ.
  • Về mặt thực tiễn: Thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở Việt Nam trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI và đề xuất các giải pháp tương ứng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân tích qua các nhóm hướng nghiên cứu chính:

Nhóm nghiên cứu lý luận về nghệ thuật:

  • Các tác phẩm kinh điển và lý thuyết phương Tây: Nghệ thuật thi ca của Aristotle (bản dịch tiếng Việt năm 1964) đặt nền móng cho quan niệm nghệ thuật mô phỏng tự nhiên; Diderot; Immanuel Kant với tác phẩm Phê phán năng lực phán đoán luận giải nghệ thuật như trò chơi tự do của các năng khiếu; G.W.F. Hegel với các bài giảng mỹ học tại Đại học Heidelberg và Đại học Berlin (1817–1829), tập hợp trong cuốn Mỹ học (Phan Ngọc dịch, 1999) luận giải nghệ thuật là sự tự vận động của ý niệm tuyệt đối; Clive Bell với lý thuyết "Mô dạng tạo Nghĩa" trong nghệ thuật thị giác; Cynthia Freeland với Thế mà là nghệ thuật ư (Như Huy dịch) tiếp cận nghệ thuật từ nhân học và lý thuyết đương đại.
  • Quan điểm mỹ học mácxít và các nhà mỹ học cách mạng Nga: V.G. Bielinski với quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh; N.G. Tsécnưsépxki với luận án Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực khẳng định nguồn gốc hiện thực của cái đẹp; C.Mác và Ph.Ăngghen với Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (1858) và Về văn học nghệ thuật (1977); giáo trình Mỹ học cơ bản và nâng cao do M. Ốpxiannhicốp chủ biên (Phạm Văn Bích dịch, 2001) phân tích đặc trưng, loại hình và bản chất xã hội của nghệ thuật.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam và các hướng tiếp cận liên ngành: Đỗ Huy với Mỹ học với tư cách là một khoa học (1996), Mỹ học Mác - Lênin cho trình độ sau đại học ngành văn hoá nghệ thuật (2006); Đỗ Văn Khang với Mỹ học đại cương (2002), Nghệ thuật học (2004); Đỗ Huy và Vũ Trọng Dung với Giáo trình mỹ học Mác - Lênin (2003); Trường Chinh với Bàn về văn hoá nghệ thuật (1993); M. Cagan với công trình chuyên khảo Hình thái học của nghệ thuật (2004); Xavier Barral Ialtet với Lịch sử nghệ thuật (Nguyễn Văn Quảng dịch, 2003); Bùi Quang Thắng với Xã hội học nghệ thuật (1998).

Nhóm nghiên cứu về thị hiếu thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ:

  • Lý luận phương Tây và Nga: Immanuel Kant (Phê phán năng lực phán đoán, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải) phân tích bản chất chủ quan và tính phổ quát của phán đoán sở thích; G.V. Plekhanov (Nghệ thuật và đời sống xã hội, Từ Lâm dịch, 1963) chứng minh nguồn gốc xã hội và điều kiện vật chất quy định sự thay đổi của thị hiếu.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Đỗ Huy với Mỹ học – Khoa học về các quan hệ thẩm mỹ (2001), Giáo dục thẩm mỹ - mấy vấn đề lý luận và thực tiễn (1987); tập thể tác giả Viện Văn hoá với Thoả mãn nhu cầu văn hoá và nâng cao thị hiếu nghệ thuật (1987) gồm các nghiên cứu của Dương Viết Á, Lê Anh Trà; Lê Anh Trà với Giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới Việt Nam (1982); Lâm Vinh với Mỹ học: về cái đẹp – về nghệ thuật – về con người (1997); Nguyễn Chương Nhiếp với luận án tiến sĩ (2000) và sách chuyên khảo Thị hiếu thẩm mỹ trong đời sống (2004); Đỗ Xuân Hà với Giáo dục thẩm mỹ, món nợ lớn đối với thế hệ trẻ (1997); Vũ Minh Tâm với Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ (1998); Nguyễn Vĩnh Lê với Về giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay (1999).

Nhóm nghiên cứu về vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ:

  • Trần Tuý với luận án tiến sĩ (1998) và cuốn sách Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ (2005); Lê Quang Vinh với luận án tiến sĩ Vai trò của văn học trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay (1996); Đào Duy Thanh với luận án tiến sĩ Vai trò của nghệ thuật trong đời sống tinh thần của con người (1999).

Nhóm nghiên cứu về thực trạng thị hiếu thẩm mỹ:

  • Hồ Sĩ Vịnh với công trình khảo sát thực trạng Cảm thụ thẩm mỹ và người Hà Nội (2007); Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh với hội thảo và kỷ yếu Thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh (2013) gồm các bài viết khảo sát của Ngô Hoài Sơn, Vũ Thị Thu Hương, Mai Thị Quế; các nghiên cứu thực tế của Đinh Xuân Dũng, Phạm Trọng Toàn, Thuỵ Du, Hà Thanh Vân, Hoàng Thanh, Đinh Kim Long.
Nhóm hướng nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu Trọng tâm nghiên cứu
Lý luận về nghệ thuật Aristotle (1964), Kant, Hegel (1999), M. Ốpxiannhicốp (2001), Đỗ Huy (1996, 2006), M. Cagan (2004), Bùi Quang Thắng (1998) Nguồn gốc, bản chất xã hội, hình thái học, lịch sử và chức năng của nghệ thuật.
Thị hiếu và giáo dục thẩm mỹ Kant, Plekhanov (1963), Đỗ Huy (1987, 2001), Lê Anh Trà (1982), Lâm Vinh (1997), Nguyễn Chương Nhiếp (2000, 2004), Đỗ Xuân Hà (1997) Bản chất phán đoán sở thích, quy luật hình thành thị hiếu, phương pháp luận giáo dục thẩm mỹ.
Vai trò nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ Trần Tuý (1998, 2005), Lê Quang Vinh (1996), Đào Duy Thanh (1999) Tác động của nghệ thuật và văn học đối với đời sống tinh thần và nhân cách.
Thực trạng thị hiếu thẩm mỹ Hồ Sĩ Vịnh (2007), Ngô Hoài Sơn, Vũ Thị Thu Hương, Mai Thị Quế (2013), Đinh Xuân Dũng Thực trạng biến đổi thị hiếu của người dân đô thị và thanh niên dưới tác động của hội nhập, kinh tế thị trường.

Khoảng trống nghiên cứu của luận án: Các công trình đã công bố chủ yếu tiếp cận nghệ thuật và giáo dục thẩm mỹ ở tầm khái quát lý luận chung hoặc khảo sát thị hiếu của các nhóm đối tượng rộng như công chúng xã hội, cư dân đô thị (Hà Nội, TP.HCM), thanh thiếu niên nói chung. Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên biệt vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho nhóm đối tượng sinh viên đại học ở Việt Nam trên bình diện triết học và mỹ học mácxít trong bối cảnh hai thập niên đầu thế kỷ XXI.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của đề tài là các nguyên lý triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và mỹ học của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nhân dân, tính dân tộc của văn hóa - nghệ thuật; các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và đào tạo con người phát triển toàn diện.

Khung lý thuyết và khái niệm trung tâm:

  • Khái niệm nghệ thuật: Hình thái ý thức xã hội đặc thù phản ánh hiện thực khách quan bằng hình tượng nghệ thuật; mang bản chất xã hội thể hiện qua tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc và tính thời đại; có tính độc lập tương đối đối với tồn tại xã hội.
  • Cấu trúc hình tượng nghệ thuật: Tồn tại qua 3 cấp độ: cấp độ tư tưởng (nhận thức và quan niệm nghệ thuật), cấp độ tâm lý (tình cảm, cảm xúc nghệ thuật), và cấp độ vật chất (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, chất liệu).
  • Các chức năng cơ bản của nghệ thuật: Chức năng nhận thức bằng hình tượng, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ.
  • Khái niệm thị hiếu thẩm mỹ: Năng lực đánh giá thẩm mỹ trực quan - cảm tính và lý tính của con người đối với các hiện tượng đời sống và tác phẩm nghệ thuật, là biểu hiện tập trung của ý thức thẩm mỹ mang tính quy luật tâm lý, xã hội và thẩm mỹ.

Phương pháp nghiên cứu: Luận án quán triệt phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể theo từng phần:

  • Phần lý luận (Chương 1 và Chương 2): Phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, hệ thống hóa nhằm làm rõ các quan niệm trong lịch sử tư tưởng mỹ học.
  • Phần thực trạng (Chương 3): Phương pháp điều tra xã hội học, điều tra giáo dục, so sánh - đối chiếu, phân tích và tổng hợp, khái quát hóa nhằm đánh giá các số liệu, tư liệu khảo sát về sinh viên.
  • Phần nguyên tắc và giải pháp (Chương 4): Phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, nghiên cứu tài liệu, phương pháp giả thuyết khoa học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Các tác phẩm kinh điển triết học, mỹ học phương Tây, Nga và Việt Nam; văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam; các báo cáo nghiên cứu xã hội học, giáo dục học và tài liệu khảo sát thực tế về sinh viên Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Chương 1 tập trung phân tích có hệ thống 4 nhóm tài liệu:

  1. Những nghiên cứu lý luận cơ bản về nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ.
  2. Những nghiên cứu về thực trạng thị hiếu thẩm mỹ và thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay.
  3. Những nghiên cứu về nguyên tắc và giải pháp vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay.
  4. Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết: Khái quát hóa bản chất triết học của nghệ thuật, xác định cơ chế tác động của nghệ thuật lên thị hiếu thẩm mỹ sinh viên, đánh giá thực trạng vận dụng nghệ thuật trong môi trường đại học và xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ.

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHỆ THUẬT, THỊ HIẾU THẨM MỸ VÀ VAI TRÒ CỦA NGHỆ THUẬT TRONG GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ

Chương này triển khai các nội dung lý luận nền tảng:

  • Lịch sử các khuynh hướng quan niệm về nghệ thuật:
    1. Thuyết mô phỏng tự nhiên thời cổ đại (tiêu biểu là Aristotle).
    2. Quan niệm duy tâm chủ quan (Kant phân chia 3 cấp độ: lao động bắt buộc, gắn với tự nhiên, và trò chơi tự do của năng khiếu; Clive Bell với thuyết "Mô dạng tạo Nghĩa").
    3. Quan niệm duy tâm khách quan (Hegel luận giải nghệ thuật là sự biểu hiện của ý niệm tuyệt đối qua 3 giai đoạn: tượng trưng, cổ điển, lãng mạn).
    4. Quan niệm duy vật trước Mác (Bielinski và Tsécnưsépxki khẳng định nguồn gốc hiện thực của cái đẹp và nghệ thuật vị nhân sinh).
  • Quan niệm mỹ học mácxít về bản chất và đặc trưng của nghệ thuật: Nghệ thuật bắt nguồn từ thực tiễn lao động sản xuất, phản ánh tồn tại xã hội thông qua hệ thống hình tượng nghệ thuật (gồm 3 cấp độ: tư tưởng, tâm lý, vật chất). Bản chất xã hội của nghệ thuật thể hiện qua tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc và tính thời đại, kết hợp tính độc lập tương đối.
  • Chức năng của nghệ thuật: Phân tích 3 chức năng trụ cột gồm chức năng nhận thức bằng hình tượng, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ.
  • Lý luận về thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nghệ thuật: Xác định thị hiếu thẩm mỹ là thước đo mỹ cảm của chủ thể; phân tích vai trò của nghệ thuật trong việc cung cấp chuẩn mực thẩm mỹ, rèn luyện năng lực cảm thụ, thanh lọc cảm xúc và định hướng hành vi thẩm mỹ.

Chương 3: NGHỆ THUẬT VỚI GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO SINH VIÊN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Chương 3 khảo sát và phân tích thực tiễn:

  • Những nhân tố tác động: Quá trình hội nhập quốc tế, mặt trái của kinh tế thị trường, sự bùng nổ của mạng xã hội, internet và chuyển đổi mô hình giáo dục đại học.
  • Thực trạng vận dụng nghệ thuật: Việc đưa các bộ môn nghệ thuật, hoạt động văn hóa - nghệ thuật, câu lạc bộ ngoại khóa vào trường đại học đã đạt được một số kết quả ban đầu, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của sinh viên. Tuy nhiên, việc vận dụng còn mang tính hình thức, thiếu tính hệ thống, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng dạy nghệ thuật còn nhiều bất cập.
  • Thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên: Tồn tại sự phân hóa rõ rệt; bên cạnh bộ phận sinh viên duy trì thị hiếu lành mạnh, có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vẫn còn một bộ phận chạy theo xu hướng lai căng, thị hiếu tầm thường, tiêu thụ các sản phẩm phản nghệ thuật trên không gian mạng.
  • Những vấn đề đặt ra: Mâu thuẫn giữa nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao của sinh viên với năng lực định hướng của nhà trường; sự xung đột giữa giá trị thẩm mỹ truyền thống và các trào lưu nghệ thuật thị trường thiếu kiểm soát.

Chương 4: NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG NGHỆ THUẬT TRONG GIÁO DỤC THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO SINH VIÊN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Chương 4 đề xuất phương hướng can thiệp thực tiễn:

  • Các nguyên tắc vận dụng: Đảm bảo tính định hướng chính trị - tư tưởng kết hợp tính khoa học; bảo đảm sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính thời đại; kết hợp hài hòa giữa tính hấp dẫn thẩm mỹ và tính giáo dục; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên trong tiếp nhận và thực hành nghệ thuật.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:
    1. Đổi mới và hoàn thiện chương trình giảng dạy các môn mỹ học, nghệ thuật học, văn hóa học trong hệ thống giáo dục đại học.
    2. Đa dạng hóa các hình thức vận dụng nghệ thuật thông qua hoạt động ngoại khóa, hội thi nghệ thuật quần chúng, câu lạc bộ sáng tạo sinh viên.
    3. Nâng cao chất lượng sáng tạo và phổ biến các tác phẩm nghệ thuật chuẩn mực hướng đến đối tượng thanh niên, sinh viên.
    4. Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên và các thiết chế văn hóa trong việc định hướng môi trường thẩm mỹ lành mạnh, xây dựng khả năng tự miễn dịch trước văn hóa phẩm độc hại.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm các quan điểm lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và mỹ học mácxít về nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật, bản chất xã hội của nghệ thuật và thị hiếu thẩm mỹ.
  • Luận giải một cách có hệ thống mối quan hệ biện chứng giữa nghệ thuật và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ, chỉ rõ cơ chế tác động của các chức năng nghệ thuật (nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ) đối với việc hình thành và hoàn thiện nhân cách của sinh viên.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Phân tích và khái quát bức tranh thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI.
  • Chỉ ra những nhân tố tác động, những biểu hiện biến đổi tích cực và tiêu cực trong thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên hiện nay.
  • Xây dựng hệ thống nguyên tắc và đề xuất các nhóm giải pháp khả thi, đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng nghệ thuật trong việc định hướng thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh cho sinh viên, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực toàn diện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài tập trung nghiên cứu dưới góc độ triết học - mỹ học mácxít và phạm vi khảo sát thực tiễn giới hạn trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI tại Việt Nam. Do đó, luận án chưa đi sâu vào phân tích kỹ thuật của từng loại hình nghệ thuật chuyên biệt hoặc phân tích số liệu thống kê định lượng theo từng phân ngành đào tạo cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tác động của các phương tiện truyền thông số, nghệ thuật đa phương tiện và công nghệ nghe nhìn hiện đại đối với thị hiếu thẩm mỹ của giới trẻ trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của xã hội.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Triết học, Mỹ học, Lý luận văn hóa nghệ thuật, Giáo dục học và Văn hóa học.
  • Đối với quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho các nhà quản lý giáo dục đại học, cán bộ Đoàn - Hội, cơ quan quản lý văn hóa - tư tưởng trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục thẩm mỹ, định hướng thị hiếu và lối sống lành mạnh cho thế hệ trẻ.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao: Chương 2 (Hệ thống hóa lý luận mỹ học và các cấp độ hình tượng nghệ thuật) và Chương 4 (Hệ thống nguyên tắc và giải pháp vận dụng nghệ thuật trong trường đại học).

Câu hỏi thường gặp

1. Bản chất xã hội của nghệ thuật theo quan điểm mỹ học mácxít trong luận án được biểu hiện qua những đặc trưng nào? Bản chất xã hội của nghệ thuật được thể hiện qua 4 thuộc tính cơ bản: tính giai cấp (nghệ thuật phản ánh lập trường, lợi ích của giai cấp nhất định), tính nhân dân (nghệ thuật bắt nguồn từ quần chúng, phản ánh khát vọng và phục vụ nhân dân), tính dân tộc (nghệ thuật gắn với tâm hồn, phong tục, bản sắc dân tộc), và tính thời đại (nghệ thuật mang dấu ấn và phản ánh sự vận động của thời đại lịch sử).

2. Hình tượng nghệ thuật được cấu thành qua những cấp độ nào? Hình tượng nghệ thuật tồn tại qua 3 cấp độ:

  • Cấp độ tư tưởng: Thao tác lý trí, phản ánh quan niệm nghệ thuật và nền tảng văn hóa của con người.
  • Cấp độ tâm lý: Thế giới của tình cảm, cảm xúc nghệ thuật giúp chủ thể thể nghiệm hình tượng trong cảm thụ.
  • Cấp độ vật chất: Ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, đường nét đóng vai trò vật chất hóa hình tượng nghệ thuật.

3. Immanuel Kant phân chia nghệ thuật thành những cấp độ nào và quan niệm ra sao về phán đoán thẩm mỹ? Kant phân chia nghệ thuật thành 3 cấp độ: cấp độ 1 là nghệ thuật gắn với lao động bắt buộc (nghề thủ công, kiếm tiền); cấp độ 2 là nghệ thuật gắn bó với tự nhiên (thế phẩm của nghệ thuật); cấp độ 3 là nghệ thuật đích thực (trò chơi tự do của ý chí và tài năng thiên bẩm). Phán đoán thẩm mỹ (phán đoán sở thích) theo Kant mang tính chủ quan, vô tư, không khái niệm nhưng lại có tính phổ quát dựa trên giả định về một cảm quan chung.

4. Luận án xác định các chức năng cơ bản nào của nghệ thuật? Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đa chức năng, trong đó có 3 chức năng cơ bản: chức năng nhận thức bằng hình tượng (giúp con người khám phá bản thân và thực tại một cách sâu sắc), chức năng giáo dục (định hướng đạo đức, lối sống, lý tưởng), và chức năng thẩm mỹ (mang lại khoái cảm thẩm mỹ, thanh lọc cảm xúc và phát triển năng lực cảm thụ cái đẹp).

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu thực tiễn của luận án được xác định như thế nào? Đối tượng nghiên cứu là vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở Việt Nam hiện nay trên bình diện triết học. Phạm vi thực tiễn tập trung khảo cứu thực trạng vận dụng nghệ thuật trong giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở Việt Nam trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Nghệ thuật với vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên ở nước ta hiện nay" là công trình nghiên cứu hệ thống về mối quan hệ giữa nghệ thuật và giáo dục thị hiếu thẩm mỹ trên lập trường triết học - mỹ học mácxít. Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bản chất, chức năng của nghệ thuật và cấu trúc hình tượng nghệ thuật, đồng thời phân tích sâu sắc thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống nguyên tắc và giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy vai trò của nghệ thuật trong việc định hướng thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.