phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 4 chương, 12 tiết. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Những nghiên cứu lý luận cơ bản về nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu thẩm mỹ và vai trò của nghệ thuật đối với giáo dục thị hiếu thẩm mỹ 1. Những nghiên cứu về nghệ thuật Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nghệ thuật là một hoạt động nhận thức của con người bằng phương tiện hình tượng. Thế giới hình tượng nghệ thuật và các quy luật phát triển của thế giới nghệ thuật là nguồn cảm hứng vô tận cho các nghệ sĩ tự do sáng tạo, đồng thời là đề tài nghiên cứu của các học giả, các nhà khoa học quan tâm phân tích với nhiều khía cạnh khác nhau.
Từ thời cổ đại, các nhà triết học Hy Lạp đã thể hiện sự quan tâm của mình đối với nghệ thuật. Tiêu biểu ở thời kỳ cổ đại Hy Lạp về nghệ thuật phải kể đến Nghệ thuật thi ca của Aristotle được dịch ra tiếng Việt lần đầu tiên vào năm 1964, Nxb Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội. Mặc dù chủ yếu bàn về bi kịch trong thơ ca, nhưng trong tác phẩm này, Aristotle đã chỉ ra cốt lõi của nghệ thuật là thực hiện mô phỏng tự nhiên từ đối tượng đến phương thức và mục đích. Có thể nói, Nghệ thuật thi ca là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của mỹ học duy vật và nghệ thuật trong lịch sử khoa học thế giới.
Từ đó đến nay, các nhà mỹ học lớn như Diderot, Immanuel Kant, G. đã có những nghiên cứu sâu sắc về nguồn gốc, bản chất của nghệ thuật, về các loại hình nghệ thuật và cả lịch sử phát triển của nghệ thuật. Đến Hegel, vấn đề bản chất của nghệ thuật được trình bày vô cùng sâu sắc cùng với quan niệm về cái đẹp và những luận giải về các ngành nghệ thuật riêng biệt trong các bài giảng của ông về mỹ học ở trường đại học Heisenberg và trường đại học Berlin từ năm 1817 đến năm 1829. Các bài giảng này sau đó đã được học trò của ông tập hợp lại và xuất bản thành cuốn Mỹ học.
Cuốn sách này được Phan Ngọc dịch sang tiếng Việt và chia thành hai tập do nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1999. Tiếp thu các thành quả nghiên cứu của các nhà mỹ học trong lịch sử, C.Ăngghen coi nghệ thuật là một hình thái của ý thức xã hội. Trong các tác 6 phẩm của mình, C.Ăngghen đưa ra nhiều suy nghĩ về nghệ thuật và mỹ học quanh câu hỏi: “cái gì biến nghệ thuật thành một giá trị vĩnh cửu bất chấp tính lịch sử của nó?” mà Mác đặt ra trong Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị (1858). Những suy nghĩ của C.Ăngghen về nghệ thuật sau này được các nhà nghiên cứu chủ nghĩa Mác tập hợp lại trong cuốn Về văn học nghệ thuật, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977.
Công trình này là một trong những tư liệu lý luận cơ bản cho việc nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mỹ học và nghệ thuật. Trên lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, công trình Mỹ học cơ bản và nâng cao do M.Ốpxiannhicốp chủ biên, Phạm Văn Bích dịch, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001 phân tích một cách đầy đủ và chi tiết lý luận về nghệ thuật theo quan điểm của các nhà lãnh đạo Liên bang Xôviết. Đây là giáo trình dành cho sinh viên các trường đại học khoa học xã hội và các trường nghệ thuật trong toàn Liên bang Xôviết trước đây.
Trong công trình đồ sộ này, lý luận về nghệ thuật được trình bày với ba phần: đặc trưng của nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật và bản chất xã hội của nghệ thuật. Ở đây, đặc trưng của nghệ thuật được các tác giả phân tích thông qua hình tượng nghệ thuật, quá trình sáng tạo nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật, nội dung và hình thức trong nghệ thuật và cảm thụ thẩm mỹ tác phẩm nghệ thuật. Theo các tác giả, hình tượng nghệ thuật là một biến thể của tư duy hình tượng và nó là biểu hiện cho đặc trưng của nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật là nơi mà đặc trưng của nghệ thuật được bộc lộ thông qua sự thống nhất và tác động qua lại giữa nội dung và hình thức trong nghệ thuật.
Nội dung nghệ thuật đóng vai trò chủ đạo, quyết định đối với hình thức nghệ thuật, đồng thời hình thức nghệ thuật có tính độc lập tương đối và tích cực. Nội dung nghệ thuật phản ánh, tái tạo các lĩnh vực khác nhau của thực tại tự nhiên và xã hội qua hình tượng nghệ thuật. Còn hình thức nghệ thuật là phương thức biểu hiện và tồn tại về vật chất của nội dung theo những quy luật của một loại hình và thể loại nghệ thuật nhất định. Sau khi ra đời, tác phẩm nghệ thuật có quá trình tác động nhiều mặt đến con người và xã hội.
Vì vậy, đặc trưng của nghệ thuật còn được thể hiện qua việc con người cảm thụ thẩm mỹ các tác phẩm nghệ thuật. Cảm thụ thẩm mỹ là một hình thức hoạt động tâm lý đặc biệt của con người. Chính 7 trong quá trình này, giá trị nghệ thuật của các tác phẩm nghệ thuật đi vào ý thức của con người cụ thể một cách tự nhiên như nó vốn có. Từ việc phân tích đặc trưng của nghệ thuật, các tác giả đi đến phân chia các loại hình nghệ thuật.
Bắt nguồn từ bản chất của hoạt động nghệ thuật, ông chia các loại hình nghệ thuật thành nhiều nhóm: nhóm các nghệ thuật ứng dụng với kiến trúc và nghệ thuật trang trí; nhóm các nghệ thuật tạo hình bao gồm điêu khắc, hội hoạ, đồ hoạ, nghệ thuật nhiếp ảnh; nhóm nghệ thuật ngôn từ với văn học; nhóm nghệ thuật âm thanh với âm nhạc; nhóm các nghệ thuật biểu diễn gồm ca vũ tổng hợp, điện ảnh, vô tuyến truyền hình, nghệ thuật tạp kỹ và xiếc. Trên cơ sở những phân tích về đặc trưng của nghệ thuật và sự trình bày về các loại hình nghệ thuật, các tác giả bày tỏ quan điểm của mình về bản chất của nghệ thuật. Đó là, nghệ thuật mang bản chất xã hội. Nghệ thuật trước hết là một hiện tượng xã hội và bản chất xã hội của nghệ thuật thể hiện rõ nhất qua các chức năng xã hội của nghệ thuật (cụ thể là chức năng nhận thức và chức năng giáo dục).
Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định nghệ thuật thực hiện các chức năng của mình trong quá trình thống nhất phản ánh, nhận thức đời sống xã hội và chỉ có thể xem xét các chức năng của nghệ thuật trong tương quan của quá trình khái quát hoá lý luận. Vì vậy, bản chất xã hội của nghệ thuật còn được thể hiện qua mối quan hệ biện chứng giữa nghệ thuật với các hình thái ý thức xã hội khác như triết học, khoa học, đạo đức, tôn giáo. nhấn mạnh bản chất xã hội của nghệ thuật còn được thể hiện qua tính nhân dân, tính giai cấp, tính đảng của nghệ thuật. Những lý luận về nghệ thuật của các tác giả trong Mỹ học cơ bản và nâng cao là cơ sở cho luận án khi khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm, bản chất và chức năng của nghệ thuật.
Ở Việt Nam, vấn đề nguồn gốc và bản chất của nghệ thuật cũng được nhiều tác giả dày công nghiên cứu. Các công trình: Mỹ học với tư cách là một khoa học của Đỗ Huy, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Mỹ học đại cương của Đỗ Văn Khang, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2002; Giáo trình mỹ học Mác - Lênin của hai tác giả Đỗ Huy - Vũ Trọng Dung, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003. mặc dù cách thức triển khai khác nhau nhưng đều có các chương trình bày các quan 8 điểm mỹ học Mác - Lênin với tư cách là một khoa học hoàn chỉnh và hệ thống, khẳng định quan điểm thẩm mỹ, quan điểm nghệ thuật của chủ nghĩa Mác - Lênin dưới dạng giáo trình khoa học. Nổi bật là công trình Mỹ học Mác – Lênin cho trình độ sau đại học ngành văn hoá nghệ thuật của Đỗ Huy, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2006.
Trong công trình này, tác giả đã phân tích ba vấn đề cơ bản và quan trọng nhất của nghệ thuật là: khái niệm và nguồn gốc của nghệ thuật, bản chất thẩm mỹ của nghệ thuật và bản chất xã hội của nghệ thuật. Ba vấn đề này được trình bày trong chương năm của cuốn sách. Ở đó, tác giả đã dựa vào cơ sở tư tưởng của C.Ăngghen về nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nhân dân, tính dân tộc của nghệ thuật để phân tích sâu sắc tính bất đồng của nghệ thuật với phát triển kinh tế và làm rõ bản chất xã hội của nghệ thuật qua những phân tích về tính dân tộc, tính nhân dân và tính thời đại của mọi nghệ thuật hiện thực. Trong chương sách này, tác giả cũng đã trình bày nghiên cứu của mình về nghệ thuật với tư cách là sản phẩm của sáng tạo, mô hình hoá tình cảm thẩm mỹ.
Theo tác giả, nghệ thuật có lịch sử lâu đời, có bản chất xã hội, có đặc trưng thẩm mỹ, có công chúng và có đánh giá. Chương sách cũng trình bày các vấn đề về đánh giá, hưởng thụ và sáng tạo nghệ thuật. Những nghiên cứu này là một trong các cơ sở lý luận để luận án trình bày những vấn đề cơ bản về nghệ thuật. Nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của mỹ học.
Thế giới nghệ thuật là thế giới của cái đẹp. Các quy luật phát triển của thế giới nghệ thuật cũng chính là hệ quy chiếu cho các quy luật phát triển trong mỹ học. Vì vậy, không chỉ dừng lại ở nguồn gốc và bản chất của nghệ thuật, các nhà mỹ học còn quan tâm đến việc tìm hiểu các quy luật phát triển của thế giới nghệ thuật qua các loại hình của nó. Ở góc độ này, công trình nghiên cứu đầy đủ nhất, công phu nhất có thể kể đến là: Hình thái học của nghệ thuật của tác giả M.
Hội Nhà văn, Hà Nội, 2004. Đây là tác phẩm chuyên khảo đầu tiên một cách có hệ thống theo quan điểm mácxít về cơ cấu nội tại của thế giới nghệ thuật. Trong công trình này, thế giới nghệ thuật được xem xét với tính cách là một chỉnh thể thống nhất chứ không phải là một bộ phận riêng biệt nào đó.