phần Mở đầu (06 trang), Kết luận (03 trang), Tài liệu tham khảo (03 trang) và Phụ lục (30 trang), Luận văn gồm 02 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn giảng dạy môn Trang trí theo hƣớng phát triển năng lực của học sinh (32 trang) Chƣơng 2: Biện pháp giảng dạy môn Trang trí theo hƣớng phát triển năng lực của học sinh và thực nghiệm sƣ phạm (43 trang) Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 15 of 98. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIẢNG DẠY MÔN TRANG TRÍ THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH 1. Cơ sở lý luận giảng dạy môn Trang trí theo hƣớng phát triển năng lực của học sinh 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 1.
Trang trí Trang trí là cách bố trí, sắp xếp các vật có đƣờng nét, màu sắc, hình khối khác nhau sao cho tạo ra sự hài hòa, đẹp mắt trong các khoảng không gian cụ thể. Do đó, Trang trí để đạt tới cái đẹp còn đƣợc gọi là “nghệ thuật Trang trí”, “nghệ thuật sắp đặt”. Tác giả Nguyễn Thu Tuấn trong công trình nghiên cứu của mình cũng định nghĩa “Trang trí là nghệ thuật sắp xếp đƣờng nét, hình mảng, họa tiết, hình khối, đậm nhạt, màu sắc.để tạo nên một sản phẩm đẹp, phù hợp với nội dung và đáp ứng đƣợc nhu cầu thẩm mĩ của con ngƣời” [32, tr. Con ngƣời luôn hƣớng tới cái đẹp mọi lúc, mọi nơi và trong mọi việc.
Bởi vậy, ở đâu có con ngƣời sinh tụ và phát triển, ở đó có “nghệ thuật Trang trí”. Theo Từ điển mỹ thuật phổ thông, Trang trí là “nghệ thuật làm đẹp, phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời” [18, tr. Nhƣ vậy, Trang trí là khái niệm chỉ việc làm đẹp nói chung. Khi đi sâu vào tìm hiểu, có nhiều thuật ngữ liên quan đến Trang trí ở các trạng thái và mức độ khác nhau nhƣ: trang hoàng, trang điểm, trình bày, bố cục, sắp đặt.
Môn Trang trí Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm Trang trí trong cụm từ Môn Trang trí với cách hiểu là một môn học Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 16 of 98. 8 của ngành học MT theo chƣơng trình đào tạo trung cấp chuyên nghiệp. Theo đó, môn Trang trí gồm hai khối kiến thức: Trang trí cơ bản và Trang trí ứng dụng. * Trang trí cơ bản: Trang trí cơ bản là môn học hƣớng dẫn HS cách vẽ họa tiết, màu sắc theo các hình nhƣ Trang trí hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn.
Đây là cách Trang trí những hình cơ bản nhất, làm cơ sở để ứng dụng Trang trí trong thực tế lao động sản xuất. Học tập môn Trang trí cơ bản sẽ giúp cho HS hình thành các PP tổng hợp các yếu tố tạo hình đơn lẻ thành một tổng thể thống nhất trong khuôn khổ bố cục nhất định theo những nguyên tắc Trang trí. Nội dung môn học cũng khẳng định vai trò quan trọng của những nguyên tắc Trang trí, không chỉ gói gọn trong phạm vi các bài học mà có thể vận dụng vào tất cả các dạng bố cục tạo hình trong tất cả các thể loại Trang trí. Môn học Trang trí cơ bản giúp HS hình thành PP tƣ duy tạo hình Trang trí và kỹ năng Trang trí bao gồm xây dựng bố cục, xây dựng phác thảo màu, kỹ năng thể hiện, sử dụng chất liệu.
HS cũng đƣợc hình thành dần quan niệm thẩm mỹ đúng đắn và nâng cao dần khả năng cảm thụ thẩm mỹ qua môn học. * Trang trí ứng dụng: Môn học Trang trí ứng dụng cung cấp cho HS kiến thức nâng cao về Trang trí bao gồm: sử dụng màu sắc, phối màu, kết hợp các đƣờng nét, họa tiết phức tạp. Sau khi học xong học phần này, HS có khả năng ứng dụng kiến thức Trang trí để sáng tạo nên các tác phẩm của mình nhƣ làm đẹp cho các vật dụng gần gũi trong đời sống nhƣ Trang trí cái khăn, chậu cây, đĩa, lọ hoa, kẻ khẩu hiệu, Trang trí đầu báo tƣờng. Ở trình độ cao hơn, HS có khả năng ứng dụng Trang trí vào các lĩnh vực chuyên môn khác nhƣ thiết kế đồ họa, thiết kế thời trang, thiết kế nội thất.
Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 17 of 98. Học sinh Trung cấp Học sinh là một từ Hán Việt, trong đó “học” là chỉ việc học tập, “sinh” là chỉ ngƣời. Nhƣ vậy, theo cách hiểu thông dụng nhất, HS là chỉ ngƣời đi học. Tuy nhiên, ở Việt Nam, thông thƣờng căn cứ vào độ tuổi và bậc học có các từ chỉ ngƣời đi học khác nhau.
Ngƣời đi học ở bậc phổ thông bao gồm các trƣờng tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông đƣợc gọi là HS hay học trò. Nhƣ vậy, HS là ngƣời đi học ở độ tuổi từ 6-18 tuổi. Theo Thông tư số 22/2014/TT-BGDĐT ngày 09 tháng 7 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành Quy chế đào tạo Trung cấp chuyên nghiệp quy định cụ thể về đối tƣợng và chƣơng trình đào tạo nhƣ sau: “a) Từ ba đến bốn năm học đối với chƣơng trình đƣợc thiết kế cho HS đã có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc tƣơng đƣơng (THCS); b) Hai năm học đối với chƣơng trình đƣợc thiết kế cho HS đã có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tƣơng đƣơng (THPT); c) Từ một đến 1,5 năm học đối với chƣơng trình đƣợc thiết kế cho HS đã có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, đồng thời có chứng chỉ về Giáo dục nghề nghiệp cùng nhóm ngành, nghề có thời gian đào tạo từ một năm trở lên hoặc đối với HS đã có bằng tốt nghiệp khác ngành đào tạo từ trình độ Trung cấp chuyên nghiệp trở lên” Theo quy định này thì đối tƣợng học tập tại trƣờng trung cấp chuyên nghiệp rất đa dạng về lứa tuổi. Từ đủ 15 tuổi trở lên và có bằng tốt nghiệp Trung học cơ sở hoặc tƣơng đƣơng là đủ tiêu chuẩn học trung cấp chuyên nghiệp.
Nhƣ vậy, nếu áp dụng định nghĩa HS là ngƣời đi học ở bậc phổ thông trong độ tuổi 6 – 18 tuổi nhƣ trên là không hợp lý. Do đó, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng cụm từ “HS trung cấp” giống nhƣ trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nƣớc quy định về Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 18 of 98. 10 đào tạo trung cấp chuyên nghiệp để chỉ toàn bộ ngƣời học chƣơng trình trung cấp chuyên nghiệp ở tất cả các độ tuổi khác nhau. Năng lực Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao [5].
Tiến sĩ Lê Thẩm Dƣơng trong bài giảng khóa học Chiến lược nguồn vốn tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh tháng 6/2017 cũng nêu rõ khái niệm Năng lực: “Năng lực cá nhân đƣợc hiểu là kiến thức, kỹ năng, khả năng và hành vi mà ngƣời lao động cần phải có, thể hiện ổn định, đáp ứng yêu cầu công việc và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những ngƣời khác”[12]. Năng lực là phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao. Trên cơ sở đúc kết khái niệm Năng lực theo quan điểm của nhiều học giả khác nhau, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm Năng lực theo cách hiểu là: Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tƣ chất tự nhiên của cá nhân.
Đây là cơ sở quan trọng hình thành nên năng lực cá nhân. Tuy nhiên, năng lực của con ngƣời không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Năng lực đƣợc hiểu là một tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân, theo cách hiểu này dễ nhầm lần giữa khái niệm này với các khái niệm Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 19 of 98. 11 Kỹ năng, Hành vi thái độ.
Sự phân biệt giữa các khái niệm này có thể đƣợc hình dung bằng sơ đồ dƣới đây: Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa năng lực, kiến thức, kỹ năng [5] Nhƣ vậy, trí thức, kỹ năng, kỹ xảo là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực nhƣng không đồng nhất với năng lực. Năng lực góp phần làm cho quá trình lĩnh hội trí thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực hoạt động nhất định đƣợc nhanh chóng, thuận lợi và dễ dàng hơn. Có năng lực hoạt động tức là có trí thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực đó nhƣng có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo không có nghĩa là có năng lực trong lĩnh vực đó. Giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có quan hệ mật thiết với nhau.
Năng lực tƣ duy không thể phát triển cao ở ngƣời có trình độ học vấn thấp. Năng lực tổ chức không thế có đƣợc ở ngƣời chƣa hề quản lý, điều hành một đơn vị sản xuất, kinh doanh cụ thể do vậy khi đánh giá năng lực của một cán bộ cần phải căn cứ vào hiệu quả sản xuất hoàn thành công việc là chính, đồng thời cũng cần biết đƣợc trình độ học vấn và quá trình công tác của ngƣời đó nữa. Theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể năm 2015, có 8 lĩnh vực Giáo dục nghệ thuật.