Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục phổ thông, môn Mỹ thuật giữ vị trí độc lập và bình đẳng, đóng vai trò nền tảng trong việc giáo dục thị hiếu, bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh theo định hướng Đức - Trí - Thể - Mỹ. Trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, mạng lưới giáo dục trung học cơ sở bao gồm 18 trường học, trong đó có 14 trường công lập và 4 trường ngoài công lập, với 10 trường đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1. Môn Mỹ thuật được triển khai xuyên suốt 4 khối lớp với thời lượng từ 17 tiết/năm ở lớp 9 đến 35 tiết/năm ở các lớp 6, 7 và 8.

Tuy nhiên, thực tiễn dạy học môn Mỹ thuật tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận trong giai đoạn năm học 2015 - 2016 cho thấy chất lượng giảng dạy vẫn chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng của chương trình giáo dục. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những hạn chế trong mức độ thực hiện và tính thuần thục hệ thống kỹ năng sư phạm của đội ngũ giáo viên đứng lớp. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là làm thế nào để chuẩn hóa và nâng cao năng lực nghề nghiệp cho người thầy nghệ thuật trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về kỹ năng dạy học mỹ thuật cấp trung học cơ sở, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng sư phạm tại 11 trường học trên địa bàn, lấy trường Trung học cơ sở Vân Hồ làm địa bàn khảo sát trọng điểm. Từ đó, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi nhằm phát triển kỹ năng sư phạm cho giáo viên, chuẩn bị nền tảng chuyên môn vững chắc hướng tới chương trình giáo dục phổ thông mới giai đoạn 2020 - 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng nhận thức luận duy vật biện chứng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, kết hợp chặt chẽ với các học thuyết tâm lý học sư phạm hiện đại. Cơ sở hình thành kỹ năng nghề nghiệp được soi chiếu qua hai lý thuyết cốt lõi: lý thuyết phản xạ có điều kiện của sinh lý học thần kinh cấp cao (kỹ năng được tôi luyện và củng cố qua quá trình rèn luyện thực tế) và lý thuyết tâm lý học hành vi chức năng trong đào tạo giáo viên của các nước phương Tây. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa các luận điểm khoa học từ công trình nghiên cứu kỹ năng sư phạm của O. Abdoullina, lý thuyết phẩm chất tâm lý người thầy của F. Gonobolin và hệ thống hơn 100 kỹ năng nghiệp vụ giảng dạy do X. Kixegov đúc kết.

Về mô hình nghiên cứu, đề tài chuẩn hóa cấu trúc kỹ năng dạy học môn Mỹ thuật thành một hệ thống chỉnh thể gồm 3 nhóm thành tố có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ:

  • Nhóm kỹ năng chuẩn bị bài giảng: Bao gồm phân tích chương trình, tổng hợp tài liệu, xác định mục tiêu 3 chiều (kiến thức, kỹ năng, thái độ), lập kế hoạch dạy học và chuẩn bị đồ dùng trực quan.
  • Nhóm kỹ năng thực hiện bài giảng: Bao gồm kỹ năng thuyết trình, thị phạm mẫu trực tiếp, vấn đáp gợi mở, quản lý trật tự lớp học, xử lý tình huống sư phạm và tổ chức 4 phân môn đặc thù (vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh đề tài, thường thức mỹ thuật).
  • Nhóm kỹ năng đánh giá chất lượng học tập: Bao gồm kỹ năng đặt câu hỏi kiểm tra kiến thức cốt lõi, nhận xét định tính sản phẩm tạo hình, phát hiện năng khiếu tiềm ẩn và động viên, khen thưởng học sinh.

Khái niệm công cụ trọng tâm được xác định rõ: "Kỹ năng dạy học môn Mỹ thuật" là khả năng người giáo viên vận dụng linh hoạt tri thức mỹ thuật và nghệ thuật sư phạm để tổ chức các hoạt động học tập, giúp học sinh tiếp nhận kiến thức thị giác và thực hành sáng tạo nghệ thuật đạt hiệu quả cao nhất trong điều kiện thời gian và phương tiện nhất định.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp đồng bộ các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp trong phạm vi thời gian năm học 2015 - 2016. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước như Chỉ thị số 61-CT/TW ngày 28/12/2000 của Bộ Chính trị về phổ cập trung học cơ sở, Luật Giáo dục năm 2009 và Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10/7/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định quy chế bồi dưỡng thường xuyên.

Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng bao gồm 11 giáo viên chuyên trách môn Mỹ thuật tại 11 trường trung học cơ sở đại diện trên toàn quận Hai Bà Trưng. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng được áp dụng nhằm bao quát các loại hình trường công lập, trường đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1 và trường chưa đạt chuẩn. Tại địa bàn trọng điểm là trường Trung học cơ sở Vân Hồ (quy mô 16 lớp học, 51 cán bộ giáo viên nhân viên và 510 học sinh), tác giả tiến hành khảo sát sâu toàn diện.

Phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm: điều tra bằng phiếu hỏi cấu trúc, phỏng vấn sâu chuyên gia và quan sát trực tiếp thông qua dự giờ 4 tiết học thực tế tại học kỳ 1 năm học 2015 - 2016 (lớp 6A1, lớp 7A3, lớp 8A1 và lớp 9A2). Việc lựa chọn phương pháp quan sát dự giờ kết hợp bảng hỏi là bắt buộc bởi môn Mỹ thuật mang tính đặc thù thực hành thị giác cao; phương pháp này giúp lượng hóa chính xác mức độ thuần thục thao tác thị phạm và thái độ sư phạm của giáo viên, loại bỏ hoàn toàn các sai lệch mang tính chủ quan từ báo cáo định kỳ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực tế tại quận Hai Bà Trưng mang lại 4 phát hiện quan trọng về thực trạng kỹ năng dạy học môn Mỹ thuật:

Thứ nhất, có sự chênh lệch rõ rệt về kỹ năng sư phạm ban đầu do nguồn gốc đào tạo đa dạng. Khảo sát 11 giáo viên cho thấy đội ngũ được đào tạo từ các trường sư phạm nghệ thuật có nền tảng phương pháp vững vàng hơn, trong khi khoảng 36% giáo viên tốt nghiệp từ các trường mỹ thuật tạo hình hoặc mỹ thuật công nghiệp thuần túy gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong việc quản lý lớp học và thiết kế tiến trình bài giảng trong những năm đầu công tác. Mặc dù 100% giáo viên tại trường Trung học cơ sở Vân Hồ đạt chuẩn đào tạo và 71% đạt trình độ trên chuẩn, nhưng việc chuyển hóa năng lực chuyên môn cá nhân thành kỹ năng sư phạm tương tác vẫn còn nhiều rào cản.

Thứ hai, nhận thức và mức độ thực hiện của giáo viên bị lệch pha nghiêm trọng giữa các nhóm kỹ năng. Toàn bộ 11/11 giáo viên (đạt tỷ lệ 100%) đều nhận thức sâu sắc và dành phần lớn thời lượng cho nhóm kỹ năng thực hiện bài giảng trên lớp (đặc biệt là kỹ năng vẽ mẫu và thị phạm kỹ thuật). Ngược lại, chỉ có khoảng 45% giáo viên (5/11 người) thực sự chú trọng kỹ năng chuẩn bị đồ dùng dạy học chi tiết trước giờ lên lớp, và chỉ có khoảng 36% giáo viên (4/11 người) dành sự quan tâm thỏa đáng cho kỹ năng nhận xét, đánh giá sản phẩm học tập cuối buổi học.

Thứ ba, cơ sở vật chất chưa đồng bộ kìm hãm sự phát triển kỹ năng dạy học tích cực. Mặc dù 10/18 trường trung học cơ sở (chiếm tỷ lệ 55,6%) đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1 và 100% phòng học tại trường Trung học cơ sở Vân Hồ đã được trang bị máy tính, máy chiếu và mạng internet phủ sóng toàn diện, nhưng 100% các trường trên địa bàn quận đều chưa có phòng học bộ môn nghệ thuật chuyên biệt. Việc phải dạy vẽ trong các phòng học văn hóa tiêu chuẩn với bàn ghế cố định khiến giáo viên không thể triển khai kỹ năng tổ chức thảo luận nhóm, hoạt động trưng bày sản phẩm hay thị phạm đa góc nhìn.

Thứ tư, thời lượng phân bổ môn học ngắt quãng gây gián đoạn kỹ năng sư phạm. Với thời lượng chỉ 1 tiết/tuần (và lớp 9 chỉ có 17 tiết/năm), giáo viên thường phải mất từ 3 đến 4 tuần mới lặp lại một dạng bài cùng phân môn, dẫn đến việc ứng dụng các kỹ năng đặc thù bị gián đoạn, khó đạt tới mức độ kỹ xảo điêu luyện.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên xuất phát từ tâm lý xã hội và định kiến coi Mỹ thuật là "môn phụ". Giáo viên mỹ thuật thường xuyên bị phân tán nguồn lực vào các nhiệm vụ ngoài chuyên môn như trang trí khánh tiết, chuẩn bị hội trường và tổ chức các sự kiện văn nghệ, chiếm dụng quỹ thời gian dành cho việc nghiên cứu giáo án và chuẩn bị bài giảng.

Khi đối chiếu với các nghiên cứu lý luận của Roxtovxen N.N. về phương pháp dạy mỹ thuật, giáo dục nghệ thuật đòi hỏi khơi gợi tối đa tính sáng tạo độc lập thay vì truyền thụ áp đặt một chiều. Tuy nhiên, do áp lực sĩ số lớp học đông (thường từ 35 đến 45 học sinh/lớp) và không gian chật hẹp, phần lớn giáo viên tại quận Hai Bà Trưng buộc phải duy trì lối dạy truyền thống "thầy vẽ mẫu - trò vẽ theo", hạn chế đáng kể khả năng biểu đạt cảm xúc cá nhân của học sinh trung học cơ sở - lứa tuổi đang trải qua giai đoạn chuyển giao tâm lý quan trọng từ 11 đến 15 tuổi.

Các số liệu thực trạng này có thể được mô hình hóa và trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột thể hiện sự tương phản tỷ lệ giữa 3 nhóm kỹ năng (chuẩn bị 45%, thực hiện 100%, đánh giá 36%) và bảng ma trận đối chiếu con đường hình thành kỹ năng sư phạm của giáo viên qua 5 kênh tiếp nhận (trường đại học, đồng nghiệp, tự tích lũy qua giảng dạy, lớp tập huấn định kỳ và dạy thêm bên ngoài).

Đề xuất và khuyến nghị

Để chuẩn hóa và phát triển toàn diện kỹ năng dạy học môn Mỹ thuật cho giáo viên trung học cơ sở, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, đổi mới nhận thức và chuẩn hóa trách nhiệm nghề nghiệp. Ban Giám hiệu các trường phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hai Bà Trưng tổ chức quán triệt 100% cán bộ, giáo viên về mục tiêu giáo dục toàn diện theo Điều 2 Luật Giáo dục 2009. Thực hiện việc phân bổ công việc công bằng, hạn chế tối đa việc trưng dụng giáo viên mỹ thuật vào các hoạt động phong trào ngoài chuyên môn. Mục tiêu đạt 100% giáo viên có nhận thức đúng đắn về vị trí bình đẳng của môn học, triển khai thực hiện ngay từ đầu năm học 2017 - 2018.

Thứ hai, tổ chức định kỳ các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu kỹ năng sư phạm mỹ thuật. Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hai Bà Trưng chủ trì, liên kết với Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương tổ chức tối thiểu 2 khóa tập huấn nghiệp vụ chuyên đề/năm. Nội dung tập trung trang bị các phương pháp thị phạm hiện đại, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong phân môn Thường thức mỹ thuật và kỹ năng đánh giá năng lực học sinh. Lộ trình thực hiện liên tục trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ ba, tăng cường sinh hoạt chuyên môn, hội giảng và dự giờ chéo. Ban Giám hiệu các trường trung học cơ sở (trọng tâm là trường Vân Hồ) thiết lập quy chế bắt buộc mỗi giáo viên mỹ thuật phải thực hiện dự giờ đồng nghiệp ít nhất 2 tiết/học kỳ và tham gia tối thiểu 1 hội giảng chuyên đề cấp quận mỗi năm học. Giải pháp này hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ giáo viên thành thạo kỹ năng đánh giá và xử lý tình huống sư phạm từ mức 36% hiện nay lên trên 85% vào năm 2019.

Thứ tư, đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất và xây dựng phòng học chức năng chuyên biệt. Ủy ban Nhân dân quận Hai Bà Trưng phối hợp ngành giáo dục địa phương bố trí ngân sách xây dựng phòng thực hành nghệ thuật đạt chuẩn cho 100% trường trung học cơ sở trên địa bàn. Phấn đấu đến năm 2020, toàn bộ 18 trường học đều được trang bị đầy đủ giá vẽ, bục mẫu, tủ lưu trữ vật liệu và hệ thống chiếu sáng chuẩn phục vụ tạo hình thị giác.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

Thứ nhất, giáo viên giảng dạy môn Mỹ thuật tại các trường trung học cơ sở: Tài liệu cung cấp hệ thống thao tác chuẩn mực cho từng phân môn cụ thể, giúp giáo viên tự hoàn thiện kỹ năng thị phạm, đổi mới phương pháp nhận xét định tính và xây dựng bài giảng phát huy tính tích cực của học sinh.

Thứ hai, cán bộ quản lý giáo dục (Ban Giám hiệu, Tổ trưởng chuyên môn): Nắm bắt được khung tiêu chí đánh giá giờ dạy mỹ thuật đặc thù, từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, phân bổ thời khóa biểu khoa học và tạo môi trường sư phạm thuận lợi cho giáo viên bộ môn nghệ thuật phát triển năng lực.

Thứ ba, cán bộ chỉ đạo chuyên môn tại các Phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo: Tham khảo bức tranh số liệu thực tế tại 18 trường học của quận Hai Bà Trưng để hoạch định chính sách bồi dưỡng thường xuyên theo Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT, đồng thời chuẩn bị cơ sở vật chất và nhân lực cho chương trình giáo dục phổ thông mới.

Thứ tư, giảng viên và sinh viên các trường đại học sư phạm nghệ thuật: Sử dụng làm tài liệu tham khảo thực tiễn trong học phần Lý luận và phương pháp dạy học mỹ thuật, giúp người học nhận diện khoảng cách giữa lý thuyết giảng đường và thực tế đứng lớp để chủ động rèn luyện tay nghề sư phạm trước khi tốt nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Cấu trúc hệ thống kỹ năng dạy học môn Mỹ thuật cấp trung học cơ sở gồm những nhóm nào? Hệ thống gồm 3 nhóm tương hỗ: kỹ năng chuẩn bị bài giảng, kỹ năng thực hiện bài giảng trên lớp và kỹ năng đánh giá chất lượng học tập. Khảo sát tại 11 trường trung học cơ sở quận Hai Bà Trưng cho thấy giáo viên thường chỉ tập trung vào nhóm kỹ năng thực hiện bài giảng mà xem nhẹ khâu chuẩn bị và đánh giá.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch kỹ năng sư phạm giữa các giáo viên mỹ thuật là gì? Sự khác biệt bắt nguồn từ môi trường đào tạo ban đầu. Giáo viên tốt nghiệp từ các trường nghệ thuật chuyên nghiệp (chiếm khoảng 36% số người được khảo sát) thường có kỹ năng tạo hình thực tế xuất sắc nhưng ban đầu lại thiếu hụt kỹ năng tổ chức hoạt động sư phạm, dẫn đến lúng túng khi quản lý lớp học.

Tại sao cơ sở vật chất lại ảnh hưởng quyết định đến việc phát triển kỹ năng dạy mỹ thuật? Mỹ thuật là môn thực hành thị giác đòi hỏi không gian quan sát đa chiều và ánh sáng chuẩn. Việc 100% các trường trên địa bàn quận Hai Bà Trưng chưa có phòng học chức năng chuyên biệt khiến giáo viên không thể triển khai các kỹ năng nâng cao như vẽ mẫu thực tế, thảo luận nhóm hay trưng bày triển lãm sản phẩm.

Kỹ năng đánh giá chất lượng học tập môn Mỹ thuật cần tuân theo nguyên tắc nào? Đánh giá mỹ thuật mang tính định tính cao, cần tập trung vào sự tiến bộ, thái độ sáng tạo và nỗ lực cá nhân của học sinh thay vì chấm điểm hình vẽ cơ học. Giáo viên cần thành thục kỹ năng nhận xét khích lệ công khai và góp ý điều chỉnh kỹ thuật riêng để tránh làm tổn thương cảm xúc thẩm mỹ của học sinh.

Làm thế nào để giáo viên mỹ thuật tự nâng cao kỹ năng dạy học khi thời lượng môn học quá ít? Giáo viên cần tích cực tự bồi dưỡng qua thực tiễn, duy trì việc dự giờ chéo tối thiểu 2 tiết/học kỳ, tham gia đầy đủ 2 đợt tập huấn chuyên đề/năm và chủ động ứng dụng công nghệ thông tin để kết nối, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy từ các đồng nghiệp trong và ngoài quận.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về hệ thống kỹ năng dạy học môn Mỹ thuật cấp trung học cơ sở, xác lập mô hình cấu trúc 3 nhóm kỹ năng chuẩn mực.
  • Cung cấp bức tranh thực trạng chân thực từ 18 trường học trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, chỉ rõ 100% giáo viên đạt chuẩn nhưng đang tồn tại sự mất cân đối giữa các kỹ năng sư phạm.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn về hạ tầng giáo dục khi 100% cơ sở thiếu phòng học nghệ thuật chuyên biệt và thời lượng môn học bị ngắt quãng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện từ nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tay nghề, sinh hoạt chuyên môn đến đầu tư thiết bị với lộ trình cụ thể giai đoạn 2018 - 2020.
  • Tạo tiền đề khoa học và thực tiễn vững chắc phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nghệ thuật trong chương trình giáo dục phổ thông mới.

Để nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh Thủ đô, các cơ quan quản lý giáo dục và các trường trung học cơ sở cần nhanh chóng triển khai áp dụng đồng bộ các giải pháp này vào thực tiễn giảng dạy ngay trong năm học tới.