phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc thể hiện ở 2 chƣơng: 7 Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực trạng kỹ năng dạy học môn Mỹ thuật của GV THCS Vân Hồ, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội. Chƣơng 2: Biện pháp phát triển kỹ năng dạy học môn Mỹ thuật của GV trƣờng THCS Vân Hồ, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội và khảo nghiệm các biện pháp. 8 Chƣơng1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG KỸ NĂNG DẠY HỌC MÔN MỸ THUẬT CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN HAI BÀ TRƢNG, HÀ NỘI 1. Cơ sở lí luận về phát triển kỹ năng dạy học môn Mỹ thuật của Giáo viên trƣờng Trung học cơ sở 1.
Một số khái niệm công cụ của đề tài 1. Phát triển Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm “phát triển” dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hƣớng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn. Theo Đại từ điển tiếng Việt, phát triển là: vận động, tiến triển theo chiều hƣớng tăng lên [32, tr. Trong dạy học nói chung, khái niệm phát triển đƣợc sử dụng theo hƣớng mỗi giáo viên luôn cập nhật tri thức, kỹ năng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, của thay đổi của chƣơng trình, hay chính nhu cầu tự hoàn thiện năng lực nghề nghiệp của bản thân.
Kỹ năng Theo Đại từ điển tiếng Việt, kỹ năng là: khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận đƣợc vào thực tế [32, tr. Nhƣ vậy, kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó đƣợc sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Để giải thích nguồn gốc hình thành kỹ năng, có lẽ không có cơ sở lý thuyết nào tốt hơn 2 lý thuyết về: Phản xạ có điều kiện (đƣợc hình thành trong thực tế cuộc sống cá nhân) và Phản xạ không điều kiện (là những phản xạ tự nhiên mà cá nhân sinh ra đã sẵn có). Trong đó, kỹ năng của cá nhân gần nhƣ thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện, nghĩa là kỹ năng đƣợc hình thành từ khi một cá nhân sinh ra, trƣởng thành và tham gia hoạt động thực tế cuộc sống.
Ví dụ: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng 9 làm việc nhóm… Theo đó, kiến thức là cơ sở của kỹ năng và để trở thành kỹ năng thì kiến thức phải phản ánh đầy đủ thuộc tính bản chất, đƣợc thử thách trong thực tiễn, tồn tại trong ý thức với vai trò là công cụ của hành động. Kỹ năng có một số đặc điểm sau: Một là, kỹ năng là tổ hợp của hàng loạt những yếu tố cấu thành nhƣ tri thức, kỹ xảo, kinh nghiệm, khả năng chú ý, khả năng tƣ duy, tƣởng tƣợng của con ngƣời. Hai là, kỹ năng bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể. Ba là, kỹ năng luôn đƣợc biểu hiện cụ thể ở mục đích hoạt động, nội dung và phƣơng thức hoạt động.
Bốn là, kỹ năng đƣợc hình thành trong quá trình sống, quá trình hoạt động của con ngƣời. Trong phạm vi đề tài, kỹ năng đƣợc hiểu là khả năng của con ngƣời thực hiện công việc có kết quả trong một thời gian thích hợp, trong những điều kiện nhất định, dựa vào sự lựa chọn các phƣơng pháp và cách thức hoạt động đúng đắn. Kỹ năng dạy học Kỹ năng dạy học Kỹ năng chuẩn bị Kỹ năng thực hiện Kỹ năng đánh giá bài giảng: bài giảng: chất lƣợng học tập: - Phân tích - Thuyết trình - Nhận xét - Tổng hợp - Thị phạm mẫu - Đánh giá - Lập kế hoạch - Quản lý lớp học - Động viên - Chuẩn bị các bƣớc - Vấn đáp - Khen thƣởng lên lớp… - Xử lý tình huống … sƣ phạm… Hình 1: Mô hình kĩ năng dạy học Kỹ năng dạy học là khả năng hình thành cho học sinh nắm vững một 10 hệ thống các thao tác nhằm làm sáng tỏ những thông tin trong quá trình học tập. Do đó, kỹ năng dạy học đối với giáo viên là cơ sở để giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học và giáo dục.
Qua mô hình kỹ năng dạy học ở hình 1, chúng ta thấy cấu trúc kỹ năng dạy học gồm 3 phần chính: - Kỹ năng chuẩn bị bài giảng - Kỹ năng thực hiện bài giảng - Kỹ năng đánh giá chất lƣợng học tập Trong 3 nhóm kỹ năng này có mối liên quan chặt chẽ, tác động lẫn nhau để đạt đƣợc hiệu quả tốt nhất trong quá trình dạy học. Bất kỳ một nhóm kỹ năng nào bị xem nhẹ sẽ ảnh hƣởng đến nhóm kỹ năng tiếp theo và rất khó đạt đƣợc mục tiêu dạy học. Ví dụ nhƣ nếu xem nhẹ kỹ năng chuẩn bị bài giảng thì khi tổ chức, thực hiện bài giảng sẽ rất khó khăn, khó kiểm soát và không lƣờng trƣớc đƣợc những tình huống sƣ phạm trong thực tiễn tổ chức trong môi trƣờng học đƣờng, với học sinh thực sự. Về cơ bản, kỹ năng dạy học đƣợc hình thành trong quá trình hoạt động sƣ phạm, thông qua sự tích lũy kinh nghiệm sống và nó cũng có đủ các đặc điểm chung nhƣ: tính chính xác, tính linh hoạt, tính hiệu quả,.
Phát triển kỹ năng dạy học Trong phạm vi đề tài, phát triển kỹ năng dạy học là hoạt động nhằm nâng cao kiến thức và trình độ của mỗi giáo viên trong việc phát triển hoàn thành nhiệm vụ dạy học và giáo dục. Đây là một quá trình, trong đó mỗi giáo viên bằng sự nỗ lực học hỏi, rèn luyện, tiếp nhận những cái mới cho phù hợp với thực tiễn để không ngừng hoàn thiện những kỹ năng đã có, đáp ứng đƣợc yêu cầu thay đổi, phát triển của thời đại. Nhƣ vậy, phát triển kỹ năng dạy học bao gồm các hoạt động sau đây: - Nâng cao kiến thức - Nâng cao nhận thức về công việc - Học hỏi và tiếp nhận những giá trị mới 11 - Phát hiện và bồi dƣỡng những khả năng của bản thân - Truyền đạt kiến thức - Sử dụng phƣơng tiện dạy học hiện đại 1. Những định hướng của Đảng, Nhà nước về vấn đề phát triển kỹ năng dạy học của giáo viên 1.
Những định hướng của Đảng về vấn đề nâng cao trình độ, kỹ năng dạy học của đội ngũ giáo viên Ngày 28-12-2000, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 61-CT/TW “Về việc phổ cập trung học cơ sở” yêu cầu các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể nhân dân từ Trung ƣơng đến địa phƣơng phải: Nhanh chóng xây dựng và thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trung học cơ sở gắn với việc đổi mới nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp giáo dục theo hƣớng cập nhật những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ, với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc trong thời kỳ mở cửa, hội nhập, toàn cầu hoá, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Chị thị cũng chú trọng đến việc cần có kế hoạch cụ thể củng cố, nâng cao năng lực và chất lƣợng đào tạo của các trƣờng sƣ phạm, đặc biệt là đổi mới nội dung và phƣơng pháp giảng dạy. Mở rộng và hoàn thiện mạng lƣới trƣờng trung học cơ sở, trung tâm giáo dục thƣờng xuyên, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hƣớng nghiệp; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với giáo viên nói chung và giáo viên tham gia công tác phổ cập trung học cơ sở nói riêng [35]. Tại Đại hội X (2006), Đảng chủ trƣơng “Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao”.
Liên quan đến trình độ, kỹ năng của đội ngũ giáo viên, Nghị quyết về giáo dục lần này đã nhấn mạnh: Bảo đảm đủ số lƣợng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp giáo dục, phát huy tích cực, sáng tạo của ngƣời học, khắc phục lối truyền thụ một 12 chiều. Hoàn thiện hệ thống đánh giá và kiểm định chất lƣợng giáo dục. Cải tiến nội dung và phƣơng pháp thi cử nhằm đánh giá đúng trình độ tiếp thu tri thức, khả năng học tập.
Khắc phục những mặt yếu kém và tiêu cực trong giáo dục. Những chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về vấn đề nâng cao trình độ, kỹ năng dạy học của đội ngũ giáo viên Ngày 10.2012, Bộ GD&ĐT ban hành thông tƣ số 26/2012/TT- BGDĐT về việc ban hành quy chế bồi dƣỡng thƣờng xuyên giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thƣờng xuyên. Thông tƣ gồm 05 chƣơng với 22 điều với những nội dung cơ bản nhƣ: Tổ chức bồi dƣỡng thƣờng xuyên; đánh giá và công nhận kết quả bồi dƣỡng thƣờng xuyên; nhiệm vụ và quyền của giáo viên. Đối tƣợng áp dụng là giáo viên giảng dạy tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và trung tâm giáo dục thƣờng xuyên (sau đây gọi chung là giáo viên), tổ chức và cá nhân có liên quan đến công tác bồi dƣỡng thƣờng xuyên giáo viên.
Mục đích của việc giáo viên học tập bồi dƣỡng thƣờng xuyên nhằm cập nhật kiến thức về chính trị, kinh tế - xã hội; bồi dƣỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp; phát triển năng lực dạy học, năng lực giáo dục và những năng lực khác theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên, yêu cầu nhiệm vụ năm học, cấp học, yêu cầu phát triển giáo dục của địa phƣơng, yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lƣợng giáo dục. Đồng thời, phát triển năng lực tự học, tự bồi dƣỡng của giáo viên; năng lực tự đánh giá hiệu quả bồi dƣỡng thƣờng xuyên; năng lực tổ chức, quản lý hoạt động tự học, tự bồi dƣỡng giáo viên của nhà trƣờng, của phòng giáo dục và đào tạo và của sở giáo dục và đào tạo. Đối với hoạt động bồi dƣỡng thƣờng xuyên, Thông tƣ quy định, hƣớng dẫn cụ thể về thời lƣợng, nội dung, hình thức, trách nhiệm của các 13 cấp quản lý, các cơ sở giáo dục trong hoạt động bồi dƣỡng thƣờng xuyên. Trong hoạt động đánh giá và công nhận kết quả bồi dƣỡng thƣờng xuyên, Thông tƣ hƣớng dẫn chi tiết những căn cứ, phƣơng thức đánh giá; cách xếp loại; công nhận và cấp giấy chứng nhận kết quả bồi dƣỡng thƣờng xuyên của giáo viên.
Đồng thời, Thông tƣ cũng quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của giáo viên; trách nhiệm của các cấp quản lý, các cơ sở giáo dục trong việc tổ chức, hƣớng dẫn, đánh giá, công nhận kết quả thực hiện bồi dƣỡng thƣờng xuyên.