Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông. - Chương 2: Thực trạng về công tác chủ nhiệm lớp và quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng - Chương 3: Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Mô hình lớp học được duy trì và ngày càng phát triển mạnh mẽ ở khắp các nước trên thế giới.
Để quản lý lớp học nhà trường cử ra một trong những giáo viên đang giảng dạy làm chủ nhiệm lớp. GVCN được hiệu trưởng nhà trường lựa chọn từ những giáo viên ưu tú có kinh nghiệm giáo dục, có uy tín trong học sinh, được hội đồng nhà trường nhất trí phân công chủ nhiệm lớp học xác định để thực hiện mục tiêu giáo dục. Như vậy, khi nói đến GVCN lớp là nói đến mặt quản lý và mặt lãnh đạo học sinh của một lớp. Trong tác phẩm “Phương pháp công tác chủ nhiệm lớp” (NXB Giáo dục Matxcơva,1984), Bôn - đư - rép N.
đã trình bày những phương pháp cơ bản về cách thức thực hiện công tác chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông. Theo quan điểm của UNESCO đã cho rằng GD trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình những giá trị cần thiết cho cuộc sống cũng như con đường chuẩn bị bước vào hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống sau này. Đặc biệt, cuốn tài liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn (Unicef 2005) cũng đưa ra những cách thức tham vấn cho HS lứa tuổi thanh niên. Như vậy, người GV cần tổ chức các họat động khác nhau để HS có thể tham gia được dễ dàng và học được rất nhiều thứ từ đó.
Từ định hướng trên, các nước phát triển đã chỉ ra những nội dung giáo dục cho học sinh trung học mà có liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp. Những nội dung giáo dục học sinh như: giáo dục kĩ năng sống, giáo dục những giá trị sống, giáo dục hướng nghiệp… Ở Việt Nam, khi đề cập đến công tác chủ nhiệm lớp đã có một số công trình nghiên cứu như: Giáo dục học 2004 (Chương XVI, Người giáo viên chủ nhiệm) của Phạm Viết Vượng - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội; Công tác GVCN ở trường phổ thông - NXBGD, 1998; Kỷ yếu hội thảo - Công tác GVCN ở trường phổ thông – NXBGD, 2010; Một số vấn đề trong công tác chủ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay - Nhà xuất bản ĐHSP, 2011; Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục, 2005; Những tình huống giáo dục học sinh của người GVCN của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2000; Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh, Tạp chí Giáo dục số 135 (kỳ 1 – 4/2006). Nghiên cứu về biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp có “Một số biện pháp tăng cường quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm lớp trong các trường THPT tỉnh Bắc Ninh” - 2005 của Nguyễn Khắc Hiền, “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường Trung học cơ sở Ngô Quyền thành phố Hải Phòng” - năm 2011 của Vũ Thị Hải, “Biện pháp quản lý bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp cho giáo viên ở trường THPT Yên Hòa, Hà Nội” – năm 2012 của Đàm Liên Quân. Ở Hải Phòng, công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cũng được Sở GD&ĐT Hải Phòng rất quan tâm, chỉ đạo sát sao và đưa vào nhiệm vụ các năm học.
Đặc biệt Sở GD&ĐT Hải Phòng đã tổ chức các hội thảo, hội nghị bàn về công tác chủ nhiệm lớp như: Hội thảo Vai trò của công tác chủ nhiệm trong trường phổ thông, năm 2006; Hội nghị Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp trường trung học, năm 2009… đã được hầu hết các trường phổ thông trong thành phố tham gia rất tích cực. Nhiều bài viết, tham luận của lãnh đạo các trường và của chính các đồng chí giáo viên trực tiếp làm công tác chủ nhiệm đã nêu lên tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp, thực trạng, những kinh nghiệm quý báu được đúc kết trong quá trình làm công tác chủ nhiệm như: Tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp của Trương Thị Yến; Chỉ đạo công tác chủ nhiệm ở trường THPT Thái Phiên của Đào Thị Huệ; Trường THPT Nguyễn Trãi với công tác bồi dưỡng giáo viên chủ nhiệm của Lê Hoàng Việt; Công tác chủ nhiệm với việc xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực của Trần Thị Hương Duyên… 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy vậy, tại quận Hải An, thành phố Hải Phòng cũng chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về quản lý công tác chủ nhiệm lớp dành cho cấp THCS - Đây là một vấn đề nghiên cứu khá mới trong giai đoạn hiện nay ở quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.
Quản lý Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra, là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội và là nhân tố không thể thiếu trong sự phát triển của xã hội. Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Các định nghĩa về quản lý: Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [10] Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [13] Các định nghĩa khác: - Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định. - Quản lý là sự tác động có chủ đích (có kế hoạch, có phương pháp, cách thức tiến hành) của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý, đảm bảo cho hệ thống vận hành đúng quy luật và mang lại lợi ích cho hệ thống và xã hội.
- Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan. Chức năng quản lý: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xét theo quá trình, quản lý có 4 chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Bốn chức năng này được coi như bốn công đoạn tạo nên một chu trình QL. Chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan xen nhau, bổ sung cho nhau và đều cần đến thông tin quản lý.
- Kế hoạch hóa: là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các biện pháp tốt nhất để đạt các mục tiêu đó. Nội dung thực hiện chức năng kế hoạch gồm: + Phân tích bối cảnh, xác định mục tiêu phát triển tổ chức; + Lập các kế hoạch thực hiện mục tiêu; + Triển khai thực hiện kế hoạch; + Đánh giá, điều chỉnh kế hoạch (nếu cần). - Tổ chức: là quá trình tiếp nhận, phân phối, sắp xếp các nguồn lực tạo ra một cơ cấu tổ chức thích hợp đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra để tổ chức phát triển. Nội dung chức năng tổ chức bao gồm: + Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và năng động, phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ; + Xây dựng, phát triển đội ngũ đảm bảo yêu cầu của tổ chức; + Xác lập mối quan hệ và cơ chế hoạt động; + Tổ chức công việc khoa học.
- Chỉ đạo: là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi thái độ của cấp dưới thông qua các hoạt động hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên và thúc đẩy những người dưới quyền làm việc với hiệu quả cao nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Nội dung chức năng chỉ đạo gồm: + Thực hiện quyền chỉ huy, giao việc và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ; + Đôn đốc, động viên, kích thích tạo động lực làm việc cho nhân viên; + Giám sát, sửa chữa đảm bảo các hoạt động đúng hướng, bám sát yêu cầu thực thi kế hoạch của tổ chức; + Xây dựng môi trường thúc đẩy các hoạt động phát triển. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Kiểm tra: là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích những cái tốt, phát hiện những sai phạm, điều chỉnh nhằm đạt tới những mục tiêu đặt ra và góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý lên một trình độ cao hơn. Nội dung thực hiện chức năng kiểm tra gồm: + Xác định các tiêu chuẩn để đánh giá; + Đánh giá kết quả thực tế: thu thập thông tin về đối tượng được kiểm tra; + So sánh kết quả đo đạc thực tế với chuẩn để phát hiện mức độ thực hiện tốt, vừa, xấu của các đối tượngquản lý; + Điều chỉnh.
Bao gồm: tư vấn (uốn nắn, sửa chữa); thúc đẩy (phát huy thành tích tốt); hoặc xử lý. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ con người. Giáo dục là một loại hình hoạt động cơ bản của xã hội loài người nhằm chuyển giao cho các thế hệ kế tiếp những giá trị vật chất và tinh thần của loài người đã được tích lũy và phát triển trong nhiều năm đã và đang trở thành một nhu cầu không thể thiếu cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng trong các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau.