phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý chƣơng trình đào tạo theo tiếp cận đảm bảo chất lƣợng. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý chƣơng trình đào tạo đại học ngành Quản trị Kinh doanh ở Đại học Quốc gia Hà Nội. Chƣơng 3: Các giải pháp tăng cƣờng quản lý chƣơng trình đào tạo đại học ngành Quản trị Kinh doanh ở Đại học Quốc gia Hà Nội. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu ở nƣớc ngoài Ở nƣớc ngoài, về mặt lý luận, nhiều tác giả đã đề cập tới khái niệm chất lƣợng, chất lƣợng GDĐH, ĐBCL, hệ thống ĐBCL. Chất lƣợng là khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lƣờng, và cách hiểu của ngƣời này khác cách hiểu của ngƣời kia. Chất lƣợng đƣợc định nghĩa nhƣ một quá trình thanh tra mà ở đó mỗi sản phẩm hay mẫu sản phẩm đƣợc kiểm soát [124].
Định nghĩa khác coi chất lƣợng là sự phù hợp với yêu cầu [113]. Ngoài ra, chất lƣợng còn đƣợc hiểu theo nghĩa tƣơng đối và nghĩa tuyệt đối. Trong đó, khái niệm chất lƣợng dùng trong cuộc sống hàng ngày thƣờng mang ý nghĩa tuyệt đối, đề cập đến những từ tuyệt hảo, hoàn mỹ. Chất lƣợng hiểu theo nghĩa này chính là chất lƣợng cao, hay chất lƣợng cao nhất.
Ngƣợc lại, quan niệm chất lƣợng theo nghĩa tƣơng đối không xem chất lƣợng là thuộc tính của đồ vật hoặc dịch vụ mà là cái ngƣời ta gắn cho nó. Chất lƣợng không đƣợc coi là cái đích mà nó đƣợc coi là phƣơng tiện, theo đó sản phẩm hoặc dịch vụ đƣợc đánh giá [125]. Đối với chất lƣợng trong GDĐH, các nhà nghiên cứu phân ra ba trƣờng phái lý thuyết: Lý thuyết về sự khan hiếm, lý thuyết về sự gia tăng giá trị và lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu [74]. Trƣớc tiên, trƣờng phái lý thuyết về sự khan hiếm chứng minh chất lƣợng tuân thủ theo quy luật hình chóp.
Chất lƣợng chỉ có ở số lƣợng sản phẩm rất hạn chế và nó phụ thuộc vào chi phí, nguồn lực, quy mô của trƣờng ĐH, sự tuyển chọn, sự công nhận trong phạm vi toàn quốc. Lý thuyết về sự gia tăng giá trị, với Astin (1985) là đại diện, cho rằng các trƣờng ĐH có chất lƣợng cao tập trung vào làm tăng sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh viên (SV) từ khi nhập trƣờng đến khi ra trƣờng. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đại diện của trƣờng phái lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu, Bogue và Saunders (1992) cho rằng “Chất lƣợng là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mạng và kết quả đạt đƣợc của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực đƣợc chấp nhận công khai”. Đồng quan điểm này, Green (1994) trong định nghĩa trƣờng ĐH chất lƣợng cao là “nơi tuyên bố sứ mệnh và mục tiêu đã chứa đựng ý nghĩa chất lƣợng và đƣợc thực hiện một cách có kết quả và hiệu quả”.
Trong ba trƣờng phái lý thuyết vừa nêu trên thì trƣờng phái lý thuyết về sứ mệnh và mục tiêu có rất nhiều ƣu điểm và đƣợc nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ. Năm 1998, Luis Eduarda Gonzalez đã đƣa ra mô hình kiểm tra và đánh giá chất lƣợng giáo dục trong các trƣờng ĐH. Trong mô hình này, chất lƣợng đƣợc xem nhƣ một hệ thống gồm các khía cạnh gắn kết với nhau: sự phù hợp, hiệu quả, nguồn lực, hiệu suất, sự công hiệu. và quá trình.
Các khía cạnh này lại đƣợc xem xét trong tất cả các lĩnh vực của giáo dục: sự phát triển học vấn nền tảng, chức năng dạy học, nghiên cứu và sáng tạo tri thức, dịch vụ và quản lý. Trong hai thập kỷ qua, có nhiều thuyết ĐBCL GDĐH bắt đầu xuất hiện ở châu Âu và một vài thuyết trong số đó đã trở thành nổi tiếng trên thế giới. Trƣớc đây, mô hình KSCL thƣờng đƣợc sử dụng để kiểm tra chất lƣợng và mô hình này có nguồn gốc từ sản xuất hàng hóa. Lý thuyết chủ đạo của hệ thống ĐBCL xuất phát từ lĩnh vực kinh doanh sau đó đƣợc đƣa vào giáo dục.
Hiện nay, các lý thuyết có liên quan đến ĐBCL nhƣ Tiêu chuẩn hóa quốc tế dành cho các cơ quan, tổ chức (ISO) xuất phát từ kinh doanh và công nghiệp đã đƣợc đƣa vào giáo dục, đặc biệt là GDĐH. ISO 9000 là bộ tiêu chuẩn về QLCL đƣợc hình thành từ năm 1955 và đƣợc soát xét nhiều lần. Đến nay, bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 đƣợc chính thức ban hành vào ngày 15/12/2000, bao gồm 4 tiêu chuẩn cốt lõi với mục đích là đảm bảo cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ không 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những đáp ứng đƣợc những nhu cầu đã đề ra mà còn cao hơn nữa là thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng trong tƣơng lai. Hiện nay, một vài phiên bản của các mô hình ĐBCL đã xuất hiện nhƣ Giải thƣởng chất lƣợng quốc gia Baldrige ở Hoa Kỳ, các giải thƣởng chất lƣợng ở châu Âu hoặc một số nƣớc khác nhƣ Giải thƣởng chất lƣợng Deming (Nhật Bản), Giải thƣởng chất lƣợng Hàn Quốc, Giải thƣởng chất lƣợng Singapore, Giải thƣởng chất lƣợng Philippines, Giải thƣởng chất lƣợng quốc tế châu Á – Thái Bình Dƣơng., đặc biệt một số giải thƣởng đã đƣợc áp dụng vào giáo dục.
Trong xu thế hội nhập và phát triển, chất lƣợng GDĐH không đơn thuần là vấn đề của riêng một quốc gia mà có tính khu vực và quốc tế. Ngày 19/6/1999, các Bộ trƣởng Bộ Giáo dục của 29 quốc gia châu Âu đã họp tại Bologna (Ý) để ký Tuyên ngôn Bologna về tƣơng lai GDĐH tại châu Âu, khởi đầu cho một quá trình cải cách rộng lớn và quan trọng trong lĩnh vực GDĐH. Mục tiêu của các quốc gia này là làm thế nào đến 2010 thành lập đƣợc không gian GDĐH châu Âu trong đó giảng viên, SV và những học viên đã tốt nghiệp có thể di chuyển dễ dàng từ nơi này sang nơi khác trong cộng đồng. Điều này có nghĩa là quá trình và chất lƣợng đào tạo của họ phải đƣợc các quốc gia châu Âu công nhận.
Trong các thập kỷ gần đây, các thay đổi chính đã diễn ra trong GDĐH phƣơng Tây với tốc độ không thể lƣờng trƣớc đƣợc. Các phong trào phát triển này đã đem lại sự thay đổi trong phƣơng pháp dạy và học cũng nhƣ trong việc kiểm tra chất lƣợng các khóa học. Chất lƣợng, khi xảy ra các thay đổi này, đƣợc xem là các vấn đề nổi bật ở các trƣờng ĐH châu Âu. Các trƣờng ĐH đã cố gắng xây dựng các cơ chế ĐBCL.
Có nhiều lý do khác giải thích cho khuynh hƣớng này, bao gồm cả các nhu cầu sau đây: - Chứng minh cho công chúng và Chính phủ rằng các trƣờng ĐH có thể cung cấp một nền giáo dục cao; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đảm bảo rằng chất lƣợng là xứng đáng với các kinh phí nhận đƣợc từ Chính phủ và các nhà hƣởng lợi và SV là đối tƣợng chủ yếu; - Thu hút cả SV địa phƣơng và SV quốc tế; - Cải tiến hình ảnh của các trƣờng ĐH; - Tham gia vào khuynh hƣớng thị trƣờng hóa GDĐH. Về mặt thực tiễn, trên thế giới hiện nay có nhiều tổ chức tham gia công tác KĐCL và ĐBCL GDĐH nhƣ: Tổ chức Mạng lƣới Đảm bảo chất lƣợng giáo dục đại học quốc tế (Internatioanl Network of Quality Assurance in Hingher Education – INQAHE), Hiệp hội Chất lƣợng các trƣờng đại học Úc (The Australian Universities Quality Agency – AUQA), Hội đồng Kiểm định giáo dục đại học (Council for Higher Education Accreditation – CHEA), UNESCO, SEAMEO, Hội Liên hiệp châu Âu về đảm bảo chất lƣợng trong giáo dục đại học (ENQA), Mạng lƣới các trƣờng đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network – AUN), Mạng lƣới Chất lƣợng Châu Á-Thái Bình Dƣơng (The Asia-Pacific Quality Network – APQN). Trong các tổ chức kể trên, hai ĐHQG của Việt Nam là ĐHQGHN và ĐHQGTPHCM là thành viên tích cực của AUN. AUN đƣợc thành lập vào năm 1998 và ở cuộc họp lần thứ 16 vào tháng 11/2004 tại Campuchia, Hội đồng Quản trị AUN đã thông qua tài liệu “Hƣớng dẫn AUN_QA” đƣợc xem là một cẩm nang và tài liệu tham chiếu cho phong trào ĐBCL trong ASEAN.
Tài liệu này đã đề cập đến các khái niệm về chất lƣợng, chất lƣợng trong GDĐH; ĐBCL; tự đánh giá của hệ thống IQA trƣờng ĐH; tự đánh giá ở cấp độ chƣơng trình và cấp độ nhà trƣờng cũng nhƣ đề cập đến các tiêu chí chất lƣợng [94]. Các vấn đề về ĐBCL GDĐH nói chung, hệ thống ĐBCL trƣờng ĐH nói riêng đƣợc đề cập đến trong hầu hết các tài liệu của các tổ chức KĐCL hoặc ĐBCL trên thế giới [94], [95], [96], [102], [117]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đề cập đến hệ thống ĐBCL cấp quốc gia khu vực châu Á-Thái Bình Dƣơng, tác giả Len M. trong bài viết “Đảm bảo chất lƣợng và kiểm định chất lƣợng giáo dục đại học khu vực châu Á-Thái Bình Dƣơng” cho rằng hầu hết các cơ quan ĐBCL quốc gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dƣơng đều do nhà nƣớc thành lập, đƣợc nhà nƣớc cấp kinh phí và chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ kiểm định [120].
Cùng đề cập đến hệ thống ĐBCL GDĐH của các nƣớc nền kinh tế APEC, bài viết “Đẩy mạnh hệ thống ĐBCL giáo dục đại học của các nƣớc nền kinh tế APEC” đã khẳng định hệ thống ĐBCL GDĐH của các nƣớc nền kinh tế APEC đƣợc hình thành bằng các cách khác nhau nhƣng tựu trung lại có bốn con đƣờng dẫn đến sự hình thành hệ thống ĐBCL của các nƣớc ở khu vực này, bao gồm [95]: - Là một tổ chức của Chính phủ, có thể là một đơn vị của Bộ Giáo dục và Đào tạo; - Là một đơn vị độc lập với Chính phủ, ví dụ nhƣ một nhóm các trƣờng ĐH hình thành tổ chức ĐBCL; - Là một đơn vị gián tiếp hoặc là tổ chức trực thuộc địa phƣơng mà Chính phủ đóng vai trò khi mới thành lập nhƣng độc lập với Chính phủ; - Là tổ chức hoàn toàn độc lập với Chính phủ, ví dụ nhƣ tổ chức kiểm định chuyên nghiệp. Trong bài viết “Sự phát triển của công tác đảm bảo chất lƣợng và kiểm định chất lƣợng giáo dục đại học ở châu Âu hiện nay”, tác giả Williams P.