Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu. Chương 3: Quy trình tổ chức và thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng của việc thay đổi chương trình đào tạo khối ngành kinh tế tại các cơ sở đào tạo đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên chuẩn đầu ra.
Chương 5: Phương thức và mức độ tác động của yêu cầu từ người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo đại học khối ngành kinh tế. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Mục tiêu của phần tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa yêu cầu của người sử dụng lao động và chương trình đào tạo. Qua đó tìm ra các ưu điểm của các nghiên cứu đã có trước đây và tìm ra những điểm hạn chế cũng như các vấn đề chưa được nghiên cứu. Trên cơ sở đó định hướng cho việc nghiên cứu “Tác động từ yêu cầu của người sử dụng lao động đến chương trình đào tạo khối ngành kinh tế”.
Các nghiên cứu liên quan đến yêu cầu của người sử dụng lao động Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thị trường lao động đối mặt với nhiều thách thức, do đó nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao rất cần thiết. Giáo dục đại học giữ vai trò cung cấp kiến thức, kỹ năng…cho người học để có thể tham gia vào thị trường lao động. Vì vậy, giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho thị trường lao động. Các trường đại học trên thế giới phải đối mặt với vấn đề làm thế nào cung cấp các kiến thức, kỹ năng phù hợp để sinh viên tốt nghiệp có thể đáp ứng tốt yêu cầu của người sử dụng lao động.
Nghiên cứu về khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp Ở thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp đa số liên quan đến các kỹ năng sống và làm việc. Năm 1974, Katz đã đưa ra 3 yêu cầu cần thiết đối với sinh viên tốt nghiệp là: Kỹ năng sử dụng phương tiện kỹ thuật, kỹ năng quan hệ giao tiếp trong công việc và kiến thức cơ bản đạt được ở sinh viên tốt nghiệp [150]. Sau đó, năm 1993 tác giả Analoui đã bổ sung thêm 3 kỹ năng mà người sử dụng lao động quan tâm ở sinh viên tốt nghiệp là: kỹ năng quan hệ hợp tác trong công việc, kỹ năng thu thập thông tin và kỹ năng phân tích giải quyết công việc [136]. Đồng quan điểm trên, 2 tác giả Carmichael và Routledge cho rằng môi trường làm việc mang tính cạnh tranh khá cao nên ngoài khả năng giao tiếp thì bản thân sinh viên tốt nghiệp cần có kỹ năng cạnh tranh và kiểm soát, động cơ làm việc và đặc biệt phải có kỹ năng đổi mới suy nghĩ hợp lý để phù hợp với những thay đổi của thực tế [142].
Năm 2009, tác giả Kumpikaite và Alas đã nêu lên yêu cầu của người sử dụng lao động về thái độ làm z việc của sinh viên tốt nghiệp ngành Kinh tế và Quản lý [153]. Năm 2012, tác giả Kumpikaitė và Ribeiro đã kế thừa và tổng hợp các nghiên cứu kỹ năng cần thiết cho sinh viên tốt nghiệp từ các tác giả trên [154]. Điểm mạnh của các nghiên cứu trên là nêu lên yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp không chỉ là bằng cấp chuyên môn mà còn là những kỹ năng làm việc cần thiết khác. Đặc biệt, kỹ năng hợp tác và giao tiếp của sinh viên tốt nghiệp được hầu hết các tác giả nhắc đến và xem đây là một trong những kỹ năng quan trọng không thể thiếu.
Các nghiên cứu liên quan đến yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp của các tác giả nước ngoài ở giai đoạn đầu chủ yếu là dùng phương pháp nghiên cứu định tính như: phương pháp quan sát và phân tích môi trường thực tế nghiên cứu, chưa có những dữ liệu thống kê cụ thể từ điều tra khảo sát thực tế. Tuy nhiên, từ các nghiên cứu trên đã chỉ ra các kỹ năng cần thiết cho sinh viên tốt nghiệp, có thể nói đây cơ sở lý luận đầu tiên và là kênh thông tin cần thiết cho các trường đại học xem xét hướng đến xây dựng mục tiêu đào tạo để sinh viên tốt nghiệp có thể hòa nhập và tiếp cận thực tiễn. Giáo dục đại học được xem là một công cụ hiệu quả để tăng cường khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp, vì vậy muốn tăng cường chất lượng đào tạo thì các trường đại học cần phải tăng cường khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp [156]. Một số tác giả đưa mô hình lý thuyết về khả năng làm việc như sau: (1) Mô hình CPS của Fugate và các cộng sự (2004) được xác định bởi các yếu tố (hình 1.1) như sau: Bản sắc nghề nghiệp (Career identity) – Thích ứng cá nhân (Personal adaptability) – Vốn hiểu biết về xã hội và con người (Social and human capital) [152].
Mô hình CPS kỹ năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp z Điểm mạnh của mô hình CPS là nêu được các yếu tố tạo nên khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp gồm: thích ứng nghề nghiệp, bản sắc nghề nghiệp và vốn hiểu biết về xã hội, con người. Tuy nhiên, trong mô hình này có sự hạn chế là đưa ra các khái niệm còn chung chung, chưa phân tích rõ các khái niệm như thích ứng cá nhân, bản sắc nghề nghiệp… Ngoài ra, tác giả chưa làm rõ mối liên hệ giữa các thành tố trong mô hình. (2) Mô hình USEM của Yorke và Knight (2006) về khả năng làm việc được xác định bởi các yếu tố (hình 1. Điểm mạnh của mô hình USEM là nêu được các yếu tố tạo nên khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp là sự tổng hợp của kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức và tư duy/ nhận thức.
Trong mô hình này, tác giả đã nhấn mạnh ngoài kiến thức, kỹ năng được rèn luyện ở cơ sở đào tạo thì sinh viên tốt nghiệp cần có năng lực nhận thức ở mức độ cao còn gọi là siêu nhận thức. Điểm hạn chế của mô hình này là các khái niệm được đề cập một cách chung chung, thiếu yếu tố kinh nghiệm làm việc và chưa đi sâu phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố trong mô hình. Mô hình USEM kỹ năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp ` (3) Mô hình CareerEDGE của Pool và Sewell (2007) về khả năng làm việc được xác định bởi các yếu tố (hình 1.3): Chuyên môn nghề nghiệp (Career) – Kinh nghiệm (Experience) – Kiến thức chuyên môn (Degree subject) – Kỹ năng cốt lõi (Generic skills) – Trí tuệ cảm xúc (Emotional intelligence) [148]. z Điểm mạnh của mô hình CarrerEDGE là nêu lên các yếu tố tạo nên khả năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp gồm: khả năng nghề nghiệp, kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn, kỹ năng chung (cốt lõi) và trí tuệ cảm xúc.
Cách tiếp cận của Pool và Sewell (2007) được xem như là mở rộng của 2 mô hình trên. Tác giả đã chỉ ra khả năng làm việc được phát triển từ một số khả năng như: tự giác, tự lực và tự tin vào bản thân của mỗi cá nhân. Mô hình CarrerEDGE kỹ năng làm việc của sinh viên tốt nghiệp Mô hình CarrerEDGE giống như 2 mô hình CPS và USEM có sự hạn chế là chưa phân tích rõ mối liên hệ giữa các thành tố trong mô hình. Đặc biệt, trong cả 3 mô hình chỉ nhấn mạnh vai trò của sinh viên tốt nghiệp trong việc tạo ra khả năng làm việc chưa thấy rõ vai trò của trường đại học và người sử dụng lao động trong quá trình đào tạo.
Nghiên cứu về năng lực của sinh viên tốt nghiệp Bên cạnh các kiến thức và kỹ năng cần thiết thì phẩm chất đạo đức của sinh viên tốt nghiệp cũng được người sử dụng lao động quan tâm trong việc tuyển dụng nhân sự [137]. Thực tế, trường đại học không thể dạy toàn bộ các kiến thức và kỹ năng để sinh viên tốt nghiệp tham gia được vào tất cả môi trường xã hội đa lĩnh vực. Vì vậy, sinh viên tốt nghiệp cần phải có một số năng lực cần thiết để thích ứng môi trường đa dạng của xã hội. Sau năm 1998, một số nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu các vấn đề về yêu cầu của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp và đưa ra lý thuyết về yêu cầu đối với sinh viên tốt nghiệp gọi chung là “Thuộc tính của sinh viên tốt nghiệp” [148].
Thuộc tính của sinh viên tốt nghiệp được xem như z những yêu cầu cần thiết mà sinh viên tốt nghiệp cần phải có, tác giả nêu ra một số thuộc tính như: kiến thức, kỹ năng và năng lực thích ứng với môi trường xã hội. Kế thừa lý thuyết của Harvey, một số tác giả đã tiếp tục nghiên cứu và bổ sung thêm các thuộc tính của sinh viên tốt nghiệp theo yêu cầu của người sử dụng lao động như: tính chủ động trong công việc và năng lực giải quyết vấn đề một cách sáng tạo [181]. Tuy nhiên, xã hội càng phát triển thì yêu cầu của người sử dụng lao động ngày càng cao, vì vậy hàng loạt các nghiên cứu về năng lực của sinh viên tốt nghiệp được các nhà nghiên cứu giáo dục bổ sung và hoàn thiện theo sự phát triển của xã hội. Ngoài ra, tác giả Bennett (2002) đã đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn thông qua phân tích 1000 mẫu tuyển dụng, sau đó tổng hợp và phân tích một số những yêu cầu của người sử dụng lao động đòi hỏi ở sinh viên tốt nghiệp như năng lực: năng lực trình bày, năng lực tư duy, năng lực phân tích… [139].
Sau đó, Taylor (2005) tiếp tục tìm hiểu về những kỳ vọng của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp và nghiên cứu này đã đưa ra một số năng lực của sinh viên tốt nghiệp như: năng lực quản lý, năng lực giải quyết vấn đề. Điểm mạnh của các nghiên cứu từ năm 1998 đến năm 2002 là kế thừa và phát triển lý thuyết về yêu cầu của người sử dụng lao động về năng lực của sinh viên tốt nghiệp. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp quan sát và phân tích môi trường thực tế, chưa có những dữ liệu thống kê cụ thể từ việc điều tra khảo sát về thực trạng năng lực của sinh viên tốt nghiệp có đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động hay không.