phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng chuẩn đầu ra môn Toán bậc THPT. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý quá trình xây dựng CĐR môn Toán ở trƣờng THPT Thanh Oai A – Hà Nội. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý quá trình xây dựng chuẩn đầu ra bộ môn Toán ở trƣờng THPT Thanh Oai A - Hà Nội. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG CHUẨN ĐẦU RA MÔN TOÁN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu: 1. Thuật ngữ chuẩn đầu ra: Theo trang web Tuning Educational Structures in Europes – Tuning Cấu trúc GD châu Âu: ““learning outcomes” (kết quả học tập) là sự khẳng định về những gì ngƣời học đƣợc mong đợi sẽ biết, hiểu và/hoặc có khả năng sử dụng sau khi hoàn thành việc học tập. CĐR có thể quy chiếu về một đơn vị của học phần, một module, hay một đơn vị nào khác trong quãng thời gian học tập. CĐR xác định cụ thể các yêu cầu tối thiểu để đƣợc cấp chứng nhận.
Kết quả học tập [CĐR] mong muốn sẽ do đội ngũ giảng viên xây dựng”. Hai tác giả Jenkins và Unwin đƣa ra định nghĩa: “Kết quả học tập [CĐR] là sự khẳng định của những điều kỳ vọng, mong muốn một ngƣời tốt nghiệp có khả năng làm đƣợc nhờ kết quả của quá trình đào tạo”. Đại học New South Wales, Australia: “learning outcomes” (kết quả học tập) là lời khẳng định của những điều mà chúng ta muốn sinh viên có khả năng làm, biết, hoặc hiểu nhờ hoàn thành một khóa đào tạo”. Theo giáo sƣ Nguyễn Thiện Nhân thì "Chuẩn đầu ra là sự khẳng định sinh viên tốt nghiệp làm được những gì và kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi cần đạt được của sinh viên".
Một cách hiểu khác của CĐR đƣợc dịch nghĩa từ “learning outcome standards” hay “program outcome standard”. Tuy nhiên trong thực tế khi xây dựng CĐR hiện nay thì CĐR mới chỉ đƣợc hiểu là kết quả học tập dự kiến của ngƣời học khi kết thúc chƣơng trình, nó là những gì mà nhà trƣờng cam kết với xã hội rằng ngƣời học sẽ đạt đƣợc điều đó sau quá trình đào tạo. Để thực sự đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện trong giáo dục và đào tạo đối với giáo dục phổ thông, điều quan trọng cốt yếu phải thực hiện cho bằng đƣợc vấn đề chuyển từ dạy kiến thức sang hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của ngƣời học. Điều đó đƣợc thể hiện ở việc xây dựng CĐR theo năng lực và phẩm chất của ngƣời học.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, với định hƣớng trong “ Dự thảo chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể” của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì khái niệm chuẩn đầu ra nhƣ sau là đầy đủ: “Chuẩn đầu ra (learning outcome) là các nội dung/tiêu chí/chỉ báo đòi hỏi người học phải đạt được sau giáo dục”. Chuẩn kiến thức kỹ năng 1. Khái niệm chuẩn kiến thức kỹ năng: Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ của Chƣơng trình Giáo dục phổ thông đƣợc thể hiện cụ thể trong các chƣơng trình môn học, hoạt động giáo dục (gọi chung là môn học) và các chƣơng trình cấp học.[3] Đối với mỗi môn học, mỗi cấp học, mục tiêu của môn học, cấp học đƣợc cụ thể hóa thành chuẩn kiến thức, kỹ năng của chƣơng trình môn học, chƣơng trình cấp học. Chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn học: Chuẩn kiến thức kỹ năng của chƣơng trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt đƣợc sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, module).
Chuẩn kiến thức, kỹ năng của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của đơn vị kiến thức mà học sinh cần phải và có thể đạt đƣợc. Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thể hiện mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng. Mỗi yêu cầu về kiến thức, kỹ năng có thể đƣợc chi tiết hơn bằng những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cụ thể, tƣờng minh hơn; minh chứng bằng những ví dụ thể hiện đƣợc cả nội dung kiến thức, kỹ năng và mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng. Chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình cấp học: Chuẩn kiến thức kỹ năng của chƣơng trình cấp học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của các môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt đƣợc sau từng giai đoạn học tập trong cấp học.
[3] Chuẩn kiến thức, kỹ năng ỏ chƣơng trình các cấp học đề cập tới những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng mà học sinh (HS) cần và có thể đạt đƣợc sau khi hoàn thành chƣơng trình giáo dục của từng lớp học và cấp học. Các chuẩn này cho 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thấy ý nghĩa quan trọng của việc gắn kết, phối hợp giữa các môn học nhằm đạt đƣợc mục tiêu giáo dục của cấp học. Việc thể hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng ở cuối chƣơng trình cấp học thể hiện hình mẫu mong đợi về ngƣời học sau mỗi cấp học và cần thiết cho công tác quản lý, chỉ đạo, đào tạo và bồi dƣỡng GV. Chƣơng trình cấp học đã thể hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng không phải đối với từng môn học mà đối với từng lĩnh vực học tập.
Trong văn bản về chƣơng trình của các cấp học, các chuẩn kiến thức, kỹ năng đƣợc biên soạn theo tinh thần : Các chuẩn kiến thức, kỹ năng không đƣợc đƣa vào cho từng môn học riêng biệt mà cho từng lĩnh vực học tập nhằm thể hiện sự gắn kết giữa các môn học và hoạt’động giáo dục trong nhiệm vụ thực hiện mục tiêu của cấp học. Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ đƣợc thể hiện trong chƣơng trình cấp học là các chuẩn của cấp học, tức là những yêu cầu cụ thể mà HS cần đạt đƣợc ở cuối cấp học. Cách thể hiện này tạo một tầm nhìn về sự phát triển của ngƣời học sau mỗi cấp học, đối chiếu với những gì mà mục tiêu của cấp học đã đề ra. Những đặc điểm của chuẩn kiến thức, kỹ năng Chuẩn kiến thức, kỹ năng đƣợc chi tiết, tƣờng minh bằng các yêu cầu cụ thể, rõ ràng về kiến thức, kỹ năng.
Chuẩn kiến thức, kỹ năng có tính tối thiểu, nhằm đảm bảo mọi HS cần phải và có thể đạt đƣợc những yêu cầu cụ thể này. Chuẩn kiến thức, kỹ năng là thành phần của chƣơng trình giáo dục phổ thông hiện tại. Trong CTGDPT, chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ đối với ngƣời học đƣợc thể hiện, cụ thể hóa ở các chủ đề của chƣơng trình môn học theo từng lớp và ở các lĩnh vực học tập. Đồng thời, chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu vể thái độ cũng đƣợc thể hiện ở phần cuối của chƣơng trình mỗi cấp học.
Chuẩn kiến thức, kỹ năng là thành phần của CTGDPT. Việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng sẽ tạo nên sự thống nhất; làm hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đƣa thêm nhiều nội dung nặng nề, quá cao so với chuẩn kiến thức, kỹ năng vào dạy học, kiểm tra, đánh giá; góp phần làm giảm tiêu cực của dạy thêm, học thêm ; tạo điều kiện cơ bản, quan trọng để có thể tổ chức giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá và thi theo chuẩn kiến thức, kỹ năng. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Năng lực Thuật ngữ “năng lực” (competence) đƣợc R.
White đƣa ra vào năm 1959, và từ đó đến nay đã đƣợc luận giải dƣới nhiều góc độ khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, năng lực của một cá nhân là khả năng thực hiện đƣợc một công việc cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định, diễn ra trong bối cảnh thực, dựa trên những kiến thức, kỹ năng và những trải nghiệm của bản thân. Năng lực có thể đƣợc xem nhƣ khả năng hành động, giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, trong các tình huống khác nhau, tại những thời điểm khác nhau. Năng lực đƣợc xem là chỉ có thể đƣợc hình thành trên cơ sở trí thức thông qua các trải nghiệm.
Năng lực cũng hàm chứa trong nó ý thức sẵn sàng hành động, ý chí, động cơ và trách nhiệm xã hội để hoàn thành tốt công việc. Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học đƣợc. để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thê sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp.
trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001). Ngƣời có năng lực về lĩnh vực nào đó cần hội tụ các yêu cầu: (1) Có kiến thức, hiểu biết một cách hệ thống, sâu sắc về lĩnh vực đó; (2) Biết lựa chọn và thực hiện các hành động cụ thể, lựa chọn đƣợc các giải pháp, phƣơng tiện để thực hiện nhiệm vụ phù hợp với mục đích, mục tiêu đặt ra; (3) Hành động một cách hiệu quả, ứng phó linh hoạt với những bối cảnh khác nhau. Có thể xem định nghĩa sau bao hàm đầy đủ những đặc trƣng cơ bản của khái niệm năng lực: Năng lực là tố hợp các hoạt động dựa trên sự huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn tri thức khác nhau để giải quyết vấn đề hay có cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh phức tạp của cuộc sống luôn thay đồi. ( Quebec education program) 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngƣời học phải có khả năng sử dụng kiến thức của bản thân vừa để giải quyết vấn đề, vừa làm công cụ để tƣ duy, để tìm tòi, để sáng tạo trong suốt quá trình học trong trƣờng cũng nhƣ trong cuộc sống lao động sau này.
Kiến thức kỹ năng là cơ sở để hình thành năng lực • Một năng lực là tổ hợp đo lƣờng đƣợc các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà một ngƣời cần vận dụng để thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến động. • Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc có thể đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau.