phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương: Chư ng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Khoa học tự nhiên ở các trường Trung học cơ sở theo tiếp cận tích hợp. Chư ng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Khoa học tự nhiên ở các trường Trung học cơ sở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ theo tiếp cận tích hợp. Chư ng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Khoa học tự nhiên ở các trường Trung học cơ sở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ theo tiếp cận tích hợp. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN TÍCH HỢP 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Dạy học tích hợp “Integrated teaching” là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong những năm gần đây. Các nước có nền giáo dục tiên tiến đã ứng dụng vào trường học phổ thông và có những thành quả vượt trội so với hoạt động dạy học truyền thống. Tuy nhiên, sự xuất hiện thuật ngữ dạy học tích hợp mới chỉ được “khai thác” rộng rãi trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu XXI [21].
Trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quan điểm tích hợp, trong đó có Xavier Roegiers (1996) với công trình nghiên cứu “Khoa sư phạm tích hợp hay cần làm thế nào để phát triển năng lực ở các trường học” [49]. Trong công trình nghiên cứu của mình, ông nhấn mạnh rằng cần đưa toàn bộ quá trình học tập vào một tình huống có ý nghĩa đối với học sinh. Khi dạy tích hợp bắt buộc phải sử dụng kiến thức liên môn, đây là một cấu trúc thống nhất trong một chỉnh thể được xác định trước nhằm hướng tới việc phát triển năng lực của của người học và đưa người học xích lại gần hơn với cuộc sống. Nếu nhà trường dạy học dựa trên khái niệm căn bản của môn học thì sẽ làm cho học sinh khó có sự kết nối từ các lĩnh vực tri thức khác nhau nhằm giải quyết nhiệm vụ của cuộc sống.Roegiers cũng cho rằng cần thiết phải có sự vượt lên trên các nội dung học tập.
Các kiến thức học được chỉ thực sự có ý nghĩa khi chúng được huy động vào các tình huống cụ thể và những kiến thức đó sẽ được học sinh ghi nhớ lâu hơn. Học chỉ để biết, để nhớ và giải quyết các vấn đề trong bài học thì chưa đủ, học sinh phải biết vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào những tình huống xảy ra trong thực tiễn. Tác giả Liakopoulou (2011) đã thì cho rằng việc quản lý hoạt động dạy học tích hợp cần bám theo năng lực chuyên môn của giáo viên và phân loại “năng lực chuyên môn của giáo viên” bao gồm các thành tố sau đây: 1. Tính cách, thái độ và 6 niềm tin; 2.
Kỹ năng sư phạm và kiến thức sư phạm (kiến thức môn học, kiến thức và hiểu biết về người học, phương pháp giảng dạy, kiến thức về chương trình giảng dạy); 3. Hiểu biết về bối cảnh xã hội; 4. Hiểu biết về bản thân về khoa học nói chung [43]. Năng lực chuyên môn càng cao thì khả năng tích hợp hoạt động giảng dạy càng hiệu quả.
Ngoài ra, Donald P. Eggen trong mục: “Tích hợp các đơn vị chương trình học liên ngành và chuyên đề” thuộc công trình: “Học tập và phương pháp giảng dạy nghiên cứu” cũng đã đặt ra và bước đầu giải quyết vấn đề dạy và học theo quan điểm sư phạm tích hợp [38]. Tác giả Maria Åström (2007) trong luận án “Tích hợp theo chủ đề cụ thể. Một cuộc thăm dò thực nghiệm về giáo dục Khoa học trong các trường học bắt buộc của Thụy Điển”, Đại học Linköping, Thụy Điển [44].
Luận án trình bày bản chất của dạy học tích hợp, học tích hợp là gì, các vấn đề về giáo dục khoa học tích hợp, cách thức thực hiện tích hợp, giữa các môn học hay trong các môn học, mặt trái của khoa học tích hợp là gì (ở đây gọi là giáo dục khoa học đặc thù môn học) trong bối cảnh của Thụy Điển và chương trình giảng dạy của Thụy Điển nói gì về Khoa học tích hợp. Thông qua nghiên cứu định tính và định lượng, tác giả đã khảo sát học sinh tại 4 trường tại Thụy Điển để đánh giá sự khác biệt trong kết quả dạy học tích hợp của giáo viên và học sinh. Tác giả Kimberly Mohr và Robert W. Dưới góc độ thực tiễn, trong luận án “Dạy và học trong bối cảnh chương trình giảng dạy tích hợp: Một nghiên cứu điển hình về thực hành trong lớp học”, tác giả Sheryl Lynn MacMath, trường Đại học Toronto đã thông qua 16 tiết học của học sinh một trường trung học ở Ontario, Canada, phỏng vấn 5 giáo viên và 23 học sinh trong trường để đánh giá hiệu quả của việc dạy học tích hợp.
Nghiên cứu đã chỉ ra những thành công và khó khăn của quá trình dạy học tích hợp tại nhà trường [46]. 7 Như vậy có thể thấy, vấn đề dạy học tích hợp vẫn đang tiếp tục được các nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều giác độ cả về lý luận và thực tiễn. Ở Việt Nam Ở nước ta, trước những năm 80 của thế kỉ XX, quan điểm dạy học tích hợp chưa thực sự được nghiên cứu một cách hệ thống. Tinh thần liên môn cũng được đề cập song trên thực tế chưa được thể hiện trong nội dung chương trình.
Các quan điểm nghiên cứu về sư phạm tích hợp mới chỉ dừng lại ở mức sắp xếp các phân môn “đứng cạnh nhau” mà chưa vận dụng vào trong dạy học do chưa thấy sự liên kết chặt chẽ, giao nhau, tích hợp với nhau của các đơn vị kiến thức. Cuối những năm 80, đặc biệt là những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề nghiên cứu về một khoa học thống nhất trên quan điểm phân tích hệ thống và theo quan điểm tiếp cận tích hợp trong giáo dục nhằm hình thành và phát triển các năng lực cho người học mới thực sự được quan tâm [13]. Do vậy, đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục công bố những nghiên cứu về tích hợp trong giảng dạy, có thể kể đến là: Tác giả Đào Trọng Quang trong bài báo “Biên soạn sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp, cơ sở lý luận và một số kinh nghiệm”, đã đề cập bản chất của sư phạm tích hợp, quan điểm tích hợp và một số nguyên tắc chỉ đạo tích hợp, một số kỹ thuật tích hợp [22]. Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong bài “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn”, đã coi việc tích hợp trong dạy học Ngữ văn là quan điểm, là hình thức, phương pháp, phương tiện đã và đang được các nhà trường phổ thông áp dụng, cụ thể là tích hợp Làm văn, Văn học, Ngữ pháp vào trong môn Ngữ Văn.
Cuối cùng tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học theo chương trình tích hợp đối với môn Ngữ Văn [16]. Trong những năm 1998 - 2000, đề tài “Nghiên cứu thử nghiệm bước đầu tích hợp môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ở trường THCS” do Cao Thị Thặng làm chủ nhiệm đã được triển khai nhằm thử nghiệm bước đầu về xây dựng phương án tích hợp môn Khoa học tự nhiên và môn Khoa học xã hội để xem xét tính khả thi, hiệu quả và điều kiện để thực hiện tích hợp. Đề tài đã tổng kết kinh nghiệm tích hợp các môn Khoa học và Khoa học xã hội ở trung học cơ sở (THCS) một số nước như Pháp, 8 Anh, Đức, Mỹ, Nhật… đồng thời, xây dựng tài liệu thử nghiệm ở một số chủ đề, trên cơ sở đó đề xuất môn Khoa học và môn Sử - Địa ở trung học cơ sở [29]. Để có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến chủ đề tích hợp liên môn, với đề tài “Nghiên cứu xây dựng và thử nghiệm bước đầu một số chủ đề tích hợp liên môn Vật lý, Hóa học, Sinh học ở trường THCS”, tác giả Cao Thị Thặng đã nghiên cứu xây dựng một số chủ đề có nội dung tích hợp liên môn ở cấp trung học cơ sở, đồng thời áp dụng phương pháp dạy học theo dự án nhằm xác định khả năng tích hợp và thực hiện các phương pháp dạy học tích cực, từ đó thăm dò khả năng vận dụng định hướng tích hợp trong việc phát triển chương trình THCS các môn Khoa học tự nhiên sau năm 2015 [30].
Đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu phát triển chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015, dưới sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã triển khai đề tài “Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015” [31]. Đề tài đã nghiên cứu hệ thống hóa và cập nhật thông tin cơ sở lý luận liên quan tới vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông sau 2015, đề cập đến thực trạng tích hợp các môn Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội ở trường phổ thông, năng lực của đội ngũ chuyên gia giáo dục, đội ngũ giáo viên, chương trình bồi dưỡng và đào tạo giáo viên phổ thông, cơ sở vật chất và thiết bị trường học với việc đáp ứng vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015. Có thể nói, đề tài này đã tổng kết lại tất cả các kết quả nghiên cứu trước đây về tích hợp. Tại hội thảo “Dạy học tích hợp, dạy học phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015” do Bộ GD&ĐT tổ chức ngày 27/11/2012 [2], nhiều tác giả đưa ra mô hình dạy học tích hợp và phân hóa cho giáo dục phổ thông nước nhà dựa trên kinh nghiệm một số nước như Hàn Quốc, Pháp… và đề xuất xu hướng tích hợp trong chương trình.
Bậc THCS, ngoài các môn bắt buộc sẽ có các môn tự chọn. Nhiều nhà nghiên cứu đề xuất cần chú trọng đến việc tích hợp trong nhiều môn học và giảm các môn học bắt buộc, tăng môn học tự chọn, ngoài các môn học Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Công nghệ, Giáo dục công dân sẽ xây dựng hai môn 9 học mới gồm Khoa học Tự nhiên (trên cơ sở các môn Lý, Hóa, Sinh trong chương trình hiện hành) và môn Khoa học Xã hội (trên cơ sở môn Sử, Địa trong chương trình hiện hành cùng các vấn đề xã hội).