CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu 1.Những nghiên cứu ngoài nước Ở phương Tây, vào thế kỷ 17, có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề quản lý, có thể kể tên như: Rober Owen (1717 – 1858), Chales Baddage (1792 – 1871), F.Taylor (1856 - 1915) – cha đẻ của thuyết quản lý. Bên cạnh đó, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Leenin, các nhà nghiên cứu giáo dục đã đi sau nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm của đổi ngũCBQL trong việc quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường.P Xtrezicodin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề ra một số vấn đề quản lý của Hiệu trưởng, sự phân công nhiệm vụ giữa Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng. [dẫn theo 30] Các công trình nghiên cứu về dạy học đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ rất sớm.
Ngay từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, dưới tác động, ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các trào lưu dân chủ, sự nhận thức về hoạt động dạy học trong nhà trường có sự phát triển mới. Tiêu biểu trong đó là John Dewey – nhà giáo dục Mỹ, đã phê phán cách thức tổ chức hoạt động dạy học áp đặt, thiếu động lực phát triển các kỹ năng giao tiếp của học sinh; ông đề xuất thành laaoj nhà trường tích cực, hướng vào người học, lấy quá trình học tập của người học làm trung tâm. Nghiên cứu về PT NLNN cho học sinh cũng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhiều kết quả. Nhóm tác giả Eva Fitriani Syarifah và Raynesa Noor Emiliasari (2019) chỉ rõ: học sinh có thể phát triển khả năng ngôn ngữ và khả năng sáng tạo trong việc viết văn bản tự sự cụ thể như: khả 7 năng hiểu biết về chủ đề, kiến thức về thể loại tự sự, chức năng xã hội, cấu trúc của văn bản, ngôn ngữ, nghệ thuật,… [33] Nhóm tác giả Sofyan A.
Gani, Dian Fajrina, Rizaldy Hanifa (2015) nghiên cứu các chiến lược học tập của học sinh để phát triển kỹ năng nói đã nhấn mạnh: học sinh có kỹ năng nói tố có khả năng cân bằng tốt hơn trong việc sử dụng tát cả các loại chiến lược học tập (trí nhớ, nhận thức, siêu nhận thức, tình cảm, xã hội) để nâng cao kỹ năng nói của họ. Chính vì thế, trong dạy học, CBQL nhà trường và giáo viên cần nhận thức được ý nghĩa của việc PT NLNN cho trẻ nói chung, kỹ năng nói nói riêng, từ đó xác định các chiến lược học ngôn ngữ phù hợp, có mục đích và thường xuyên hơn. [35] Hai nhà khoa học Meng, Fanshao (2009) trong nghiên cứu của mình về phát triển khả năng đọc của học sinh chỉ rõ: Kỹ năng đọc tốt là điều cần thiết đối với những người học ngôn ngữ cho mục đích học tập và nghề nghiệp. Nghiên cứu cũng phân tích thực trạng dạy và học đọc ở các trường phổ thông Trung Quốc và đề xuất các phương pháp nâng cao kỹ năng đọc cho học sinh.[34] Nhìn chung, các nghiên cứu về quản lý dạy học nhằm PT NLNN trên thế giới đã được nhiều nhà nghiên cứu triển khai với nhiều khía cạnh khác nhau.
Điều này cho thấy, PT NLNN cho học sinh trong trường phổ thông,đặc biệt là vai trò của giáo viên trong hoạt động dạy học, CBQL đối với quản lý hoạt động dạy học nhằm PT NLNN cho học sinh thông qua các môn học là một vấn đề đã, đang và sẽ cần được nghiên cứu sâu rộng hơn. Những nghiên cứu trong nước Nhiều luận án tiến sĩ và Luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ chỉ rõ tùy theo các bậc học, trong từng nội dung hoạt động chyên môn của giáo viên có thể có những yêu cầu biện pháp khác nhau nhằm góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Tác giả Lê Tường Vân (2010) với nghiên cứu “Quản lý hoạt động dạy học cho lớp chất lượng cao tại trường trung học phổ thông dân lập Nguyễn Siêu, 8 Hà Nội” [29] đã khái quát những vấn đề “cơ bản về quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học cho lớp chất lượng cao tại trường trung học phổ thông dân lập nói riêng, qua đó đưa những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý và dạy học tại trường và khẳng định vai trò của Hiệu trưởng trong công tác quản lý nhà trường nói chung, hoạt động chuyên môn, đổi mới PPDH nói riêng, từ thực trạng quản lý, tác giả cũng đề xuất một vài biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý đổi mới PPDH ở trường THCS.” Bên cạnh đó, các nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực cho học sinh cũng khá phổ biến.Hiện nay, giáo dục phổ thông đang từng bước thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang chương trình dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh. Để thực hiện được điều này, chúng ta phải đổi mới PPDH từ “truyền thụ một chiều” sang cách học chủ động, biết thực hành kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành phẩm chất, năng lực, một trong những năng lực cần phát triển cho học sinh nhận được nhiều sự quan tâm là năng lực ngôn ngữ.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Ngô Ngọc Cường (2012) với “Đổi mới PPDH ở trường trung học theo định hướng phát triển năng lực người học” đăng trên tạp chí Giáo dục và xã hội đã đề cập việc đổi mới PPDH đòi hỏi mỗi giáo viên xác định những phương hướng phù hợp để cải tiến PPDH; kết hợp PPDH truyền thống với PPDH hiện đại; vận dụng dạy học theo tình huống [12]. Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới PPDH môn Ngữ văn đã và đang được toàn xã hội quan tâm, đặc biệt đã có nhiều công trình nghiên cứu đạt thành tự đáng kể. Vấn đề giáo dục ngôn ngữ nói chung và dạy học Ngữ văn trong nhà trường nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận từ khoa học ngôn ngữ, khoa học văn học hay khoa học giáo dục. Tác giả Ngô Thanh Mai (2006) trong nghiên cứu về PT NLNN cho học sinh trung học cơ sở qua tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn đã nhấn mạnh: “Ngữ văn là môn học quan trọng trong việc đào tạo con người.
Tác giả cũng dẫn ra 9 mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện nay là tiếp tục PT NLNN đã hình thành ở cấp tiểu học… Kết thức THCS, học sinh biết đọc hiểu dựa trên kiến thức đầy đủ hơn, sau hơn về văn học, tiếng Việt, cũng với những trải nghiệm và khả năng suy luận của bản thân; biết viết các kiểu văn bản tự tự, miêu tả, nghị luật, thuyết minh, nhật dụng đúng quy cách, quy trình; biết trình bày dễ hiểu, mạch lạc các ý tưởng và cảm xúc, nói rõ ràng, đúng trọng tâm, biết nghe hiểu với thái độ phù hợp và phản hồi hiệu quả. Từ đó, nêu đặc trưng của hoạt động trải nghiệm trong bộ môn Ngữ văn để triển khai các hoạt động trải nghiệm phù hợp nhằm phát triển nnawg lực ngôn ngữ cho học sinh THCS” [26]. Nhìn chung, trong giới hạn về thời gian và khả năng của bản thân, tác giả luận văn đã điểm luận một vài nghiên cứu về đổi mới dạy học môn Ngữ văn, quản lý hoạt động dạy học nhằm PT NLNN cho học sinh thông qua các môn học nhằm làm cơ sở lý luận để triển khai nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo hướng PT NLNN ở các trường THCS trên địa bàn các trường THCS huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương bởi vấn đề luận văn nghiên cứu là vấn đề mới. Lý luận về dạy học môn Ngữ văn theo hướng Phát triển năng lực ngôn ngữ ở các trường THCS 1.
Khái niệm dạy học môn Ngữ văn và phát triển năng lực ngôn ngữ - Khái niệm dạy học môn Ngữ văn Môn Ngữ văn là tập hợp của hai ngành Ngôn ngữ và Văn học. Trong chương trình phổ thông nước ta những năm 80 của thế kỉ trước, học theo Liên-xô (cũ), chúng ta cũng chia ra môn Tiếng Việt và Văn hay Văn học. Nhưng dù tách riêng ra hay gộp chung lại trong một môn học gọi là Văn hay Ngữ Văn, thì môn học này bắt buộc cũng có hai phần rõ rệt là Tiếng Việt và Văn học (có khi cũng gọi đơn giản là Văn như trong Sách giáo khoa của nhóm Cánh Buồm hay Chương trình THCS năm 1986 của Bộ Giáo Dục). 10 Trước những năm 80, việc dạy Tiếng Việt chưa có vị trí độc lập.
Sau đó, do sự phát triển của nhận thức về vị trí của ngôn ngữ trong “cuộc thay đổi hệ hình”, về tính chất của giáo dục ngữ văn cũng như do áp lực của tình trạng yếu kém về tiếng Việt của học sinh, vấn đề dạy tiếng Việt đãđược đặt ra một cách có hệ thống, với những nhiệm vụ khá cụ thể. Cũng phải thừa nhận rằng đã có lúc mục tiêu dạy tiếng tỏ ra không thật chuẩn xác. Dạy Tiếng Việt đôi khi đi quá xa dẫn đến chỗ biến thành dạy Ngôn ngữ học, khiến học sinh phải gánh chồng chất trong đầu một lô các khái niệm như âm vị, hình vị, âm tắc,âm xát, câu đẳng thức, câu nhận định v.v, trong khi đáng lẽ chỉ đơn giản là dạy các em biết cách diễn đạt, dùng từ và viết câu cho đúng. Những năm gần đây xu hướng này nhìn chung đãđược khắc phục.
Dạy Tiếng Việt đãđi vào quỹ đạo phát triển năng lực giao tiếp, kỹ năng viết, đọc hiểu văn bản, trên cơ sở đó hình thành tình yêu tiếng nói dân tộc và những tác phẩm viết bằng ngôn ngữ dân tộc. Nếu với phần Tiếng Việt, mục tiêu giảng dạy đã khá rõ thì với phần Văn học, “mục tiêu của dạy Văn vẫn còn là vấn đề còn nhiều tranh cãi” (2) không phải chỉ với chúng ta, mà còn với nhiều nhà giáo dục các nước. Từ lâu, ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, môn Văn được xem như một môn học chủ chốt gánh vác trách nhiệm giáo dục giá trị vốn là một trong ba nội dung của hoạt động giáo dục. Tác phẩm văn học tự nó đã chứa đựng một hàm lượng giá trị rất cao, vì nó không chỉ là nhận thức mà còn gắn với cách cảm nhận, cách nhìn, với thái độ, với sự yêu ghét hay với cách ứng xử.