CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔNTIẾNG ANH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.Nghiên cứu ở nước ngoài Những nghiên cứu trên thế giới tập trung vào một số vấn đề sau đây: - Sự hình thành và phát triển của xu hướng dạy học tiếp cận năng lực Tiếp cận năng lực trong giáo dục nói chung, dạy học nói riêng được hìnhthành, phát triển rộng khắp ở Mỹ vào những năm 1970 và trở thành một phong trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales. Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem tiếp cận năng lực là cách thức có ảnh hưởng nhiều nhất, được ủng hộ mạnh mẽ nhất để cân bằng giáo dục và quá trình dạy học, là “cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu” [16] và là “một câu trả lời mạnh mẽ đối với những vấn đề mà các nhà trường, cá nhân, tổ chức đang phải đối mặt trong thế kỷ XXI” [9; tr. - Đặc trưng và ưu thế của dạy học tiếp cận năng lực Khi tổng kết các lý thuyết về tiếp cận dựa trên năng lực trong dạy học và phát triển, K.
Paprock [16] đã chỉ ra năm đặc tính cơ bản của tiếp cận này: 1) Tiếp cận năng lực dựa trên triết lý người học là trung tâm; 2) Tiếp cận năng lực thực hiện việc đáp ứng các đòi hỏi của chính sách; 3) Tiếp cận năng lực là định hướng cuộc sống thật; 4) Tiếp cận năng lực rất linh hoạt và năng động; 5) Những tiêu chuẩn của năng lực được hình thành một cách rõ ràng. Chính những đặc tính nói trên đã làm cho tiếp cận theo năng lực có những ưu thế nổi bật so với các cách tiếp cận khác trong dạy học. Kerka [16], những ưu thế đó là: 1) Tiếp cận năng lực cho phép cá nhân hóa việc học: trên cơ sở mô hình 6 năng lực, người học sẽ bổ sung những thiếu hụt của mình để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể; 2) Tiếp cận năng lực chú trọngvào kết quả (outcomes) đầu ra; 3) Tiếp cận năng lực tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới các kết quả đầu ra, theo những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân; 4) Tiếp cận năng lực còn tạo khả năng cho việc xác định một cách rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả học tập của người học. Việc chú trọng vào kết quả đầu ra và những tiêu chuẩn đo lường khách quan của những năng giáo dục và đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đặc biệt quan tâm nhấn mạnh.
- Mô hình năng lực trong dạy học R. Boyatzid cho rằng phát triển dạy học dựa trên mô hình năng lực cần xử lý một cách có hệ thống ba khía cạnh sau: (1) xác định các năng lực, (2) phát triển chúng, và (3) đánh giá chúng một cách khách quan [15]. Để xác định được các năng lực, điểm bắt đầu thường là các kết quả đầu ra (outputs). Từ đó, đi đến xác định vai trò của những người có trách nhiệm phải tạo ra các kết quả đầu ra này.
Từ hiểu biết về năng lực như vậy, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình: (1) những mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi của cá nhân theo đuổi việc xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được vai trò của mình”; (2) những mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức và kỹ năng theo đuổi việc xácđịnh “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình; (3) những mô hình dựa trên cơ sở các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”. Nghiên cứu ở trong nước Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lenin và chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta nền tảng lý luận về định hướng phát triển giáo dục, mục đích dạy học, các nguyên lý dạy học, phương pháp lãnh đạo và quản lý… Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định rõ 7 mục tiêu cụ thể như sau: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành , vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời…” Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là định hướng đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT).
Việc dạy học Tiếng Anh THPT theo hướng phát triển năng được được Bộ GD&ĐT xác định là cách tiếp cận đúng đắn trong quản lý dạy học Tiếng Anh. Trên cơ sở khung tham chiếu trình độ chung của Châu Âu, Bộ GD&ĐT đã ban hành Khung năng lực ngoại ngữ bậc của Việt Nam được quy định tại thông tư 01/2014/TT-BGDĐT được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng CEFR và một số khung trình độ Tiếng Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều kiện thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam. Chương trình GDPT ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ định hướng việc dạy học chú trọng phát triển năng lực học sinh. Chương trình này được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kỹ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mỹ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hóa dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hinh thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động sáng tạo và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó. Trước yêu cầu đổi mới giáo dục, cũng đã có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề cập đến việc quản lý hoạt động dạy học như: luận văn thạc sĩ của tác giả Võ Văn Lành với đề tài Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho 8 người học ở các trường THPT huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh; tác giả Nguyễn Minh Tuân với đề tài Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh các trường Trung học phổ thông huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Các công trình này cũng đề cập đến một số khía cạnh trong quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng làm cơ sở cho hiệu trưởng các trường THPT tham khảo và vận dụng trong công tác quản lý của mình. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu trên tập trung vào hướng dẫn, chỉ đạo, vận dụng công tác tổ chức quản lý hoạt động dạy học phù hợp cho một số địa phương khác nhau.
Cho đến thời điểm hiện nay, tại các trường THPT ngoài công lập tại thành phố Quy Nhơn vẫn chưa có công trình nghiên cứu có hệ thống đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh theo hướng phát triển năng lực học sinh. Đây là một vấn đề hết sức cấp thiết và mang tính thời sự sâu sắc. Vì vậy, tôi lựa chọn việc nghiên cứu về quản lý dạy học môn Tiếng Anh theo hướng tiếp cận PTNLHS ở các trường THPT ngoài công lập ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định với mong muốn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học của các trường trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Quản lý giáo dục. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về lí thuyết quản lý giáo dục (QLGD) và thực tế cho thấy cũng có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, có thể kể đến một số quan điểm chủ yếu sau: Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã nêu khái niệm về QLGD như sau: “QLGD là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt được mục tiêu giáo dục của nhà nước đề ra.” [9] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới’’ [10, tr. 9 Các tác giả tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều giúp ta có cách hiểu thống nhất rằng khái niệm QLGD có nội hàm rất linh hoạt, nếu hiểu giáo dục là các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường hay ngoài xã hội thì QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội, lúc đó QLGD được hiểu theo nghĩa rộng nhất. Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra kết luận: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.
Hoạt động dạy học Hoạt động dạy học là hoạt động chung bao gồm các hoạt động thành phần và hoạt động dạy và hoạt động học, mà tương ứng với chúng là hai chủ thể: Thầy – trò.