CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THỰC HÀNH NGHỀ TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về dạy học thực hành nghề Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về GDNN đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi để tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, các chuẩn quốc tế, những mô hình quản lý GDNN hiện đại. Giáo dục nghề nghiệp là một bộ phận hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo người lao động có kiến thức kĩ năng nghề nghiệp ở trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng nghề, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ, để trực tiếp tham gia vào lao động sản xuất và tiếp tục học cao hơn khi có điều kiện.
Giáo dục nghề nghiệp có tính đa dạng về ngành nghề, có quan hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, thị trường lao động. Tùy thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và nền văn minh của mỗi quốc gia mà việc hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp khác nhau về phương pháp, hình thức, quy mô nhưng cùng hướng đến chung mục tiêu phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cho người học. Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) ngày càng có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Tiềm năng, cơ hội, năng lực cạnh tranh quốc gia cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào chất lượng nguồn nhân lực và nhất là nhân lực lao động qua đào tạo của GDNN, do vậy, xu hướng của các nước trên thế giới chú trọng vào phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động, coi trọng hoạt động GDNN.
Lực lượng lao động qua GDNN bao giờ cũng chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng số lực lượng lao động qua đào tạo tham gia vào thị trường lao động ở các quốc gia trên thế giới, do vậy phát triển GDNN luôn là trọng tâm trong đào tạo nhân lực. Theo UNESCO, giáo dục đào tạo phải được phát triển phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước, theo thứ tự ưu tiên (1, 2, 3) như mô hình dưới đây: + Đối với các nước chậm phát triển: 1. GDĐH; + Đối với các nước đang phát triển: 1. GDĐH; + Đối với các nước phát triển: 1.
Như vậy, dù ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào của quốc gia, GDNN cũng luôn đứng vị trí số 1 và số 2 trong 3 vị trí của giáo dục đào tạo. [13] Mục tiêu đào tạo của cơ sở GDNN là kiến tạo cho người học tri thức khoa học và kỹ năng nghề nghiệp. Tổ chức UNESCO đã xác định bốn nội dung quan trọng trong giáo dục thế kỷ XXI là: “Học để biết – Học để làm – Học để tự khẳng định mình – Học để chung sống”.v…, nhiều chuyên gia về giáo dục, nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Austrailia… rất quan tâm và đầu tư nghiên cứu phát triển hoạt động GDNN.[13] Từ năm 2017, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức GDNN quốc tế (UNIVOC) của Liên Hợp quốc. Ngoài tiếp nhận các xu hướng GDNN trên thế giới, Việt Nam còn phải thể hiện vai trò, trách nhiệm của các nước thành viên, thể hiện là một quốc gia coi trọng phát triển GDNN, bên cạnh giáo dục phổ thông và giáo dục đại học, sẵn sàng chia sẻ những thành công, những bài học kinh nghiệm của Việt Nam cho các các quốc gia khác trên thế giới.
[13] Quá quá trình phát triển các hoạt động dạy học thực hành nghề, đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động dạy học thực hành nghề. Tác giả Nguyễn Trường Giang (2012) với luận án tiến sĩ “Phát triển kỹ năng dạy thực hành cho sinh viên đại học sư phạm kỹ thuật” đã chỉ ra các nội dung của hoạt động dạy thực hành nghề. Trong nghiên cứu “Bảo đảm chất lượng giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế” năm 2019 của tác giả Trần Văn Khiêm, Nguyễn Thế Mạnh đã đưa ra thực trạng và một số biện pháp từ đổi mới quản trị nhà trường, phát triển chương trình đào tạo theo tiếp cận năng lực, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng gắn kết cơ sở GDNN với doanh nghiệp, đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận năng lực, tăng cường hợp tác quốc tế với các cơ sở đào tạo ở khu vực và các nước phát triển trên thế giới. Tác giả Nguyễn Cẩm Thanh với luận án tiến sĩ “Dạy học thực hành kỹ thuật theo tiếp cận tương tác trong đào tạo giáo viên công nghệ” năm 2015 đã đưa ra các biện pháp triển khai hoạt động dạy học thực hành nghề kỹ thuật như xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, thiết kế nội dung, đánh giá kết quả học tập… Trong nghiên cứu “Một số vấn đề về giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế” năm 2020 của tác giả Đinh Thị Hải Phong đã chỉ ra những vấn đề của giáo dục nghề nghiệp.
Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp đối mới hoạt động giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Những nghiên cứu về quản lý dạy học thực hành nghề Trong bối cảnh thế giới có những chuyển biến mạnh mẽ về công nghệ như ngày nay, người học cần có khả năng thích ứng với tình huống thực tế và tạo ra khác biệt của bản thân. Bởi máy móc, trí tuệ nhân tạo đang ngày càng thay thế con người làm những công việc từ đơn giản đến phức tạp. Phát triển giáo dục nghề nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững của đất nước.
Quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là một trong những yếu tố tác động đến chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Những năm đầu của thế kỷ XX, các nước tư bản phát triển như Hoa Kỳ, Đức, Nga.đã rất quan tâm 7 đến đào tạo nghề và quản lý hoạt động đào tạo nghề. Do đặc thù yêu cầu về nguồn nhân lực khác nhau nên phương pháp, hình thức, quy mô khác nhau nhưng đều hướng đến mục tiêu phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cho người học. [28] Ở Việt Nam, vấn đề đào tạo nghề và quá trình hoạt động dạy học thực hành nghề cũng được quan tâm từ những năm 70 của thế kỷ XX.
Điển hình công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Ninh (2017) với luận án tiến sĩ “Quản lý chất lượng đào tạo của các trường Cao đẳng nghề theo hướng tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể” đã chỉ ra các thực trạng của công tác quản lý chất lượng đào tạo nghề và từ đó đưa ra các giải pháp quản lý chất lượng đào tạo nghề trong các trường cao đẳng nghề. Bên cạnh những công trình nghiên cứu tổng quát về vấn đề đào tạo nghề, về quản lý chất lượng đào tạo thực hành nghề của các nhà nghiên cứu, các bộ ngành liên quan. Trong những năm gần đây đã có một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng đề cập đến các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, nâng cao chất lượng các hoạt động thực hành, thực tập nghề. Tuy ở những điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm nghiên cứu khác nhau nhưng các đề tài cũng đều tập trung đi vào giải quyết các vấn đề vướng mắc trong thực tiễn công tác quản lý các hoạt động đào tạo, các hoạt động thực hành và thực tập tốt nghiệp ở các trường.
Điển hình một vài công trình nghiên cứu về vấn đề này, chẳng hạn: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề tại trường trung cấp chuyên nghiệp Việt – Úc Nghệ An (2012) của Nguyễn Duy Chuyên; Quản lý hoạt động dạy học thực hành hệ cao đẳng nghề tại trường đại học công nghiệp Hà Nội, đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp (2014) của Trương Văn Lương; Quản lý quá trình dạy thực hành tại Trường Trung cấp nghề Sơn Tây trong giao đoạn hiện nay (2014) của Phạm Thị Tâm; Quản lý hoạt động dạy học thực hành nghề ở trường Cao đẳng kỹ thuật và công nghệ tỉnh Hà Giang (2020) của Phan Văn Nhân. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một tất yếu khách quan của mọi quá trình lao động xã hội.
Nếu không thực hiện các chức năng và nhiệm vụ quản lý thì không thể thực hiện được các quá trình hợp tác lao động, sản xuất; không thể khai thác, sử dụng có hiệu quả các yếu tố của lao động sản xuất. Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại. Thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, các nhà nghiên cứu xuất phát từ các góc độ tiếp cận khác nhau, đã đưa ra các nhiều ý kiến khác nhau. Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [20] 8 Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình quản lý xã hội, hành vi và hành động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”.11] Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức ( chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [ 14, tr. Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [32, tr.