Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về thiết bị dạy học ở trường phổ thông Trong học thuyết kinh điển, nhà nghiên cứu K. Marx chỉ ra: muốn truyền đạt kĩ năng, kinh nghiệm quản lí hoạt động sử dụng thiết bị dạy học ở trường Phổ thông đến các nhà quản lí, lãnh đạo phải thực hiện quá trình ngược lại: phi vật thể hóa năng lực người nghĩa là: “rút cái năng lực người trước đây gửi gắm vào đồ vật, xử lý nó thành kiến thức, kỹ năng, thái độ về một hoạt động cụ thể” hay chính là kinh nghiệm được rút ra của xã hội loài người Nhà nghiên cứu Lotx Klinbơ cũng nhận định: thiết bị dạy học là tất cả những phương tiện vật chất cần thiết cho giáo viên và học sinh tổ chức, tiến hành có hiệu quả quá trình giáo dục các môn học, cấp học. Tác giả David Dwyer nhận định về sử dụng TBDH hiệu quả khi nhà quản lý coi TBDH như là công cụ, chỉ báo phục vụ cho công tác đánh giá, dự báo về chất lượng và môi trường giáo dục của nhà trường [32].
Trong cuốn “Sư phạm kỹ thuật” của tác giả Trần Khánh Đức đã viết “Trong bất cứ một loại hình thức lao động nào trong đời sống xã hội, lao động sư phạm của người giáo viên cần có những dụng cụ, thiết bị dạy học phải phù hợp với tính chất và nội dung , môi trường lao động ở từng cấp học, loại hình trường và ngành nghề đào tạo. Phương tiện dạy học không chỉ là công cụ hỗ trợ hoạt động lao động sư phạm của người giáo viên mà còn có vai trò thay thế cho các sự vật hiện tượng và một số quá trình xảy ra trong đời sống, lao động nghề nghiệp mà phương tiện dạy học tạo điều kiện để phát huy hết các chức năng tư duy của não con người” [11]. Tác giả Vũ Trọng Rỹ trong bài viết “Tình hình sử dụng TBDH ở trường THCS qua khảo sát các tỉnh, Thành phố” đã nhận định về tình hình sử dụng 9 TBDH của HS thông qua dự giờ lên lớp của GV cho thấy học sinh trung học cơ sở ít được trực tiếp sử dụng TBDH, thường chỉ quan sát tranh ảnh, bản đồ, mô hình do GV giới thiệu. Trong trường hợp HS trực tiếp sử dụng TBDH thì thấy nhiều em còn khá lúng túng, GV chưa sử dụng thành thạo TBDH.
Theo tự đánh giá của GV, nguyên nhân chủ yếu là GV chưa được tập huấn hoặc tập huấn chưa đạt 19 yêu cầu về sử dụng TBDH [25]. Tác giả Tô Xuân Giáp trong cuốn sách “Phương tiện dạy học – Hướng dẫn chế tạo và sử dụng” có nhận định phương tiện dạy học được sử dụng đúng có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học [13]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo và Trần Kiểm, phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng phương pháp dạy học. Bên cạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, hiện nay các trường THCS đã được trang bị nhiều phương tiện dạy học.
Vì vậy GV cần phải nắm được khái niệm phương tiện dạy học, các loại phương tiện dạy học, cách sử dụng, bảo quản từng loại phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện dạy học kỹ thuật [2]. Các tác giả Nguyễn Cảnh Chi, Trần Quốc Đắc .trong tài liệu “ Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng cơ sở vật chất và TBDH ở trường Phổ thông Việt Nam” đã nhấn mạnh về vị trí, vai trò của cơ sở vật chất TBDH ở trường phổ thông. Các tác giả trong công trình nghiên cứu đã nhận định: “TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo.
Điều này đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH” [8]. Các nghiên cứu về quản lý thiết bị dạy học ở trường phổ thông Mô hình quản lí TBDH trong trường học đã được UNESCO khởi xướng, khuyến khích và bảo trợ trong nhiều thập kỷ qua tại Cộng hòa Séc, Úc, Ba Lan, Pháp. với tôn chỉ thống nhất “nhà trường phục vụ nhà trường”. 10 Tại Rumani, quản lí sử dụng TBDH gắn với việc thực hành tự làm TBDH; thực hành làm các TBDH được đưa vào môn học bắt buộc tại các trường Phổ thông.
Tại Ba Lan việc quản lí sử dụng TBDH được đánh giá thông qua các bài tập thực hành của học sinh và được áp dụng với đa số các thiết bị dạy học được sử dụng trong trường Phổ thông [15]. Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về quản lí TBDH. Tác giả Phùng Thị Lý Hằng với luận án tiến sĩ “ Quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở trường Trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục” đã phân tích bối cảnh đổi mới giáo dục và vai trò, tầm quan trọng của thiết bị dạy học từ đó đề xuất ra nhiều giải pháp có tính ứng dụng cao như: tổ chức nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên đối với sử dụng thiết bị trong giai đoạn hiện nay; xây dựng bộ tiêu chí quản lí sử dụng TBDH; xây dựng mô hình liên kết về sử dụng TBDH; xây dựng khung năng lực viên chức làm công tác TBDH; xây dựng kế hoạch sử dụng TBDH phù hợp mục tiêu, nội dung, đổi mới phương pháp; tổ chức đào tạo bồi dưỡng đội ngũ; xã hội hóa nguồn đầu tư TBDH [15]. Tác giả Lê Thanh Giang với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau” đã đưa ra những khung lý luận cơ bản về quản lý thiết bị dạy học, sau đó tiến hành khảo sát, phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp để quản lí việc sử dụng TBDH của giáo viên trong các trường trung học cơ sở tỉnh Cà Mau như: tổ chức các tiết dạy biểu diễn; tổ chức hội thảo; tăng cường kiểm tra đánh giá; đảm bảo đủ số lượng TBDH tối thiểu.
Tác giả Nguyễn Văn Thành với đề tài: “ Quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở trường THPT Kiến Thuỵ huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018” đã nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý thiết bị dạy học tại các trường THPT sau đó khảo sát thực trạng quản lý TBDH tại trưởng THPT Kiến Thuỵ, huyện Kiến Thuỵ thành phố Hải 11 Phòng, từ đó đề xuất ra năm biện pháp có thể ứng dụng vào thực tế để nâng cao hiệu quả công tác quản lý sử dụng TBDH trong trường THPT Kiến Thuỵ [28]. Tác giả Ngọc Thanh Sơn trong đề tài: “ Quản lý TBDH ở các trường Tiểu học huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đáp ứng mô hình trường Tiểu học mới” đã nghiên cứu lý luận về quản lý TBDH và khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng ở 3 trường tiểu học đáp ứng mô hình trường tiểu học mới (VNEN) trên địa bàn huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, luận văn đã đề xuất 7 biện pháp quản lý TBDH ở các trường tiểu học [26]. Tác giả Lê Anh Đào trong đề tài: “ Quản lý thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường Tiểu học Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên” tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong công tác quản lý như: công tác kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên và kịp thời, các giáo viên chưa được tạo điều kiện cho việc triển khai sử dụng TBDH, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sử dụng TBDH còn chưa được thực hiện thường xuyên và chưa có hiệu quả rõ rệt. Từ đó tác giả đã đề xuất ra năm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng TBDH [10].
Tác giả Đặng Phúc Tịnh với đề tài: “Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ”. Tác giả đã khảo sát phân tích thực trạng quản lí TBDH ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ từ đó đề xuất một số biện pháp có giá trị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý TBDH: nâng cao tầm quan trọng củaTBDH; quản lí cung ứng, trang bị TBDH; quản lý sử dụng TBDH; quản lí bảo quản TBDH[30]. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của TBDH trong hoạt động dạy và học, nhiều công trình đã đề xuất được các biện pháp khả thi giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn vẫn tồn tại lâu nay trong trường học về quản lí TBDH. Tuy vậy, chưa có công trình 12 nghiên cứu nào đề cập đến việc quản lý, khai thác, sử dụng TBDH đáp ứng yêu cầu của Chương trình GDPT 2018 chuyển từ dạy học truyền thụ kiến thức sang dạy học tiếp cận năng lực nhằm phát triển toàn diện học sinh.
Vì vậy nghiên cứu đề xuất các biện pháp “Quản lý thiết bị dạy học ở các trường Tiểu học, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc theo yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông 2018” là việc làm rất cần thiết đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Đã có rất nhiều tác giả đưa ra khái niệm quản lý, tuỳ vào lĩnh vực mà các khái niệm có sự khác nhau, cụ thể: Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung”[1, tr. Theo tác giả Hồ Thế Vĩnh “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [31, tr.
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức’’ [9, tr.