phần Mở đầu; Kết luận, khuyến nghị; Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học trực tuyến ở trƣờng trung học cơ sở. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học trực tuyến ở các trƣờng trung học cơ sở thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học trực tuyến ở các trƣờng trung học cơ sở thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về dạy học trực tuyến ở trường trung học cơ sở Thế k 21, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, với tiềm năng to lớn trong l nh vực GD, CNTT đã và đang mở ra những con đƣờng mới cho việc học tập suốt đời, giúp mọi ngƣời học tập tốt hơn trong nền kinh tế thông tin mới trên nền tảng công nghệ. Xã hội tri thức đã tạo ra sự chuyển hƣớng từ công nghệ làm động lực thay đổi công cụ cung cấp những cách thức mới để kết hợp các thông tin phổ biến, CNTT tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập và học tập với xu hƣớng hiện đại.
Trong những năm gần đây, cụm từ “E-Learning” đã và đang trở nên gần gũi với tất cả mọi ngƣời. E-Learning (học tập trực tuyến) là một phƣơng thức học tập bằng truyền thông thông qua mạng Internet theo cách tƣơng tác với nội dung học tập và đƣợc thiết kế trên nền tảng phƣơng pháp dạy học và đƣợc quản lí bởi các hệ thống quản lí học tập nhằm đảm bảo sự tƣơng tác, hợp tác đáp ứng nhu cầu học mọi lúc, mọi nơi của ngƣời học. Phƣơng pháp học tập này đem lại nhƣng lợi ích to lớn, tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc, đồng thời cũng nâng cao chất lƣợng truyền đạt và tiếp thu kiến thức cho học sinh. Với những ƣu điểm, lợi ích mà đào tạo E- Learning mang lại và cũng là xu thế chung trong tƣơng lai nên các cơ sở giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học đang không ngừng tìm cách tiếp cận phƣơng thức này (Gurmak Singh và cộng sự, 2005) [28].
Tổ chức ETS (Educational Testing Service) xây dựng bộ khung kiến thức CNTT&TT trong chuyển đổi kỹ thuật số xác định khung lý thuyết về ứng dụng và phát triển NL CNTT&TT trong từng giai đoạn của tiến trình chuyển đổi ứng dụng kỹ thuật số trong GD (ETS, 2006) [27]. Sự thay đổi DH trong thế k 21 không những DH giáp mặt mà còn kết hợp với DH số (e-learning). Ngƣời dạy và ngƣời học đều thay đổi để phù hợp với xu thế phát triển của công nghệ và CNTT trong GD (UNESCO, 2010) [33]. 6 Anthony & Susan (2010) [23], với công bố nghiên cứu về xu hƣớng đánh giá hoạt động DH và kết quả học tập theo xu hƣớng đánh giá hiện đại đã đề cập đến rất nhiều nội dung của đánh giá, bao gồm: Phát triển các kế hoạch giảng dạy kết hợp với đánh giá; các đánh giá về mục tiêu, hiệu quả hoạt động DH.
Paula và nhóm cộng sự (2010) [31] đã nghiên cứu về xác định NL cho sự thành công trong DH trực tuyến đã chỉ ra nguyên tắc - điểm của việc giảng dạy hiệu quả với DH trực tuyến thành công. Katie & Matthew (2015) [29] đã đề cập đến vấn đề kiểm tra đánh giá định hƣớng NL và chi tiết hóa một số vấn đề về mức độ đánh giá và mức độ làm chủ trong công việc thực tiễn của ngƣời học. Ở Việt Nam, DHTT mới chỉ bắt đầu phát triển một số năm gần đây, đồng thời với việc kết nối Internet băng thông rộng đƣợc triển khai mạnh mẽ tới tất cả các trƣờng học. Tuy nhiên, DHTT ở các trƣờng đại học ở Việt Nam trƣớc đại dịch Covid- 19 còn diễn ra ở quy mô nhỏ, mang tính chất thử nghiệm.
Có thể nói, đại dịch Covid- 19 là cơ hội cho việc sử dụng hình thức DHTT, chuyển đổi số trong giáo dục ở Việt Nam nói chung và các trƣờng học nói riêng. Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện Công nghệ thông tin (ĐHQG Hà Nội) và Khoa Công nghệ thông tin (ĐH Bách khoa Hà Nội) [21] phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục đầu tiên đƣợc tổ chức tại Việt Nam. Vũ Trọng Nghị (2010) [12], dựa vào NL công nghệ hỗ trợ đƣợc trang bị cho ngƣời học thông qua bộ môn tin học văn phòng áp dụng vào phƣơng thức đánh giá kết quả học tập theo hƣớng phát triển NL CNTT. Nguyễn Thị Hƣơng Giang (2016) [7], cung cấp nền tảng lý luận về công nghệ DH trực tuyến hƣớng phong cách ngƣời học thông qua đánh giá thực trạng về DHTT và phong cách học tập của ngƣời học; đề xuất các môi trƣờng học tập trực tuyến hƣớng phong cách ngƣời học.
Nguyễn Ngọc Trang (2017) [18], chỉ ra cơ sở khoa học về đặc trƣng của DH dựa vào dự án với sự hỗ trợ của e-learning; đánh giá thực tiễn về nhận thức, mục đích và mức độ sử dụng DH dựa vào dự án trong đào tạo ngành CNTT. 7 Phan Chí Thành (2018) với bài báo “Cách mạng công nghiệp 4.0 - Xu thế phát triển của giáo dục trực tuyến” [17] đã khái quát một cách cụ thể về tác động của cuộc cách mạng 4.0 với giáo dục trực tuyến. Thực tế này mở ra những cơ hội và thách thức lớn cho các cơ sở đào tạo nhằm đáp ứng nguồn nhân lực lao động có trình độ, có năng lực nghề nghiệp và khả năng tiếp cận, làm việc và vận hành các hệ thống thông minh trong thời kì công nghệ số. Lê Thị Kim Loan (2019) [11], đánh giá trong các yếu tố chủ quan, yếu tố NL CNTT và phƣơng pháp giảng dạy của GV là hai yếu tố đƣợc cho là ảnh hƣởng nhiều nhất, đồng thời đề xuất hệ thống 6 biện pháp phát triển NL CNTT trong DH đào tạo giáo viên ở trƣờng đại học.
Nguyễn Quang Nguyên, Bùi Văn Hồng (2020) bài báo “Cấu trúc lớp học ảo trong môi trƣờng Internet” [13], đã phân tích các cấu trúc lớp học ảo trong môi trƣờng internet, sự cần thiết của dạy học theo cấu trúc này khi tƣơng tác trực truyến giữa GV và HS. Kết quả bài báo giúp ứng dụng kết quả quan trọng trong tổ chức lớp học trực tuyến ở các nhà trƣờng. Những nghiên cứu về quản lý dạy học trực tuyến ở trường trung học cơ sở Tác giả Đặng Minh Sự, Nguyễn Ngọc Phƣơng (2020) với bài báo “Quản lý hoạt động dạy học trực tuyến tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay” [15]. Bài viết cũng đã đánh giá những khó khăn, thách thức khi triển khai hoạt động DHTT tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh hiện nay.
Từ đó, đề xuất một số biện pháp quản lý, trong đó nhấn mạn đến sự đồng sức, đồng lòng của các bên tham gia, từ đó, nâng cao chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Thành phố Hồ Chí Minh và trong cả nƣớc. Bộ giáo dục và đào tạo ban hành Thông tƣ số 09/2021/TT-BGDĐT ngày 30/03/2021 về quy định quản lý và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên [3]. Có thể nói, thông tƣ đƣợc ban hành trong bối cảnh khi đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, công tác giáo dục của cả nƣớc gặp khó khăn, thông tƣ đã đƣa ra hƣớng dẫn cụ thể các quy định về tổ chức dạy học trực tuyến: hoạt động DHTT; kiểm tra, đánh giá trong DHTT; Học liệu DHTT; Quản lý 8 và lƣu trữ hồ sơ DHTT. Thêm vào đó, thông tƣ đã nêu hạ tầng kỹ thuật trong DHTT nhƣ phần mềm, hạ tầng CNTT,.
Qua nghiên cứu các tác giả đều khẳng định ý ngh a của việc ứng dụng CNTT vào dạy học, cụ thể là dạy học trực tuyến và vai trò quan trọng của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học có ứng dụng CNTT, chú trọng đến DHTT. Các tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị với các cấp quản lý trong việc triển khai các biện pháp quản lý dạy học ứng dụng CNTT tại các trƣờng. Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy quản lý hoạt động DHTT ở trƣờng THCS là một vấn đề rất cần thiết nhƣng chỉ đƣợc nghiên cứu dƣới góc độ là một phần của DHTT. Hiện nay, đa số luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quản lý DHTT ở THCS, các đề tài nghiên cứu về quản lý dạy học trực tuyến ở trƣờng THCS chƣa đƣợc quan tâm đúng mức.
Riêng ở thành phố Sông Công, quản lý DHTT ở các trƣờng THCS trong giai đoạn hiện nay chƣa đƣợc nghiên cứu một cách cụ thể. Vì thế, tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi các trƣờng THCS của thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên nhằm đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động DHTT hiệu quả ở các trƣờng THCS của thành phố Sông Công trƣớc bối cảnh CMCN4.0 và đại dịch Covid-19 trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm công cụ 1. Quản lý, quản lý giáo dục * Quản lý Từ khi xã hội loài ngƣời đƣợc hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã đƣợc quan tâm: Khi nói đến quản lý, K.Marx ví hoạt động này nhƣ là công việc của ngƣời nhạc trƣởng, ông viết: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [11].
Theo từ điển giáo dục học: “Quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [22]. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý ) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [14]. 9 Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đƣa vào thế “phát triển” [1].