CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước và ngân sách nhà nước cấp huyện 1. Hệ thống tổ chức ngân sách nhà nước Trong hệ thống tài chính, ngân sách được hiểu là một danh sách tất cả các chi phí và doanh thu theo kế hoạch hay là là một kế hoạch hành động được lượng hoá và được chuẩn bị cho một thời gian cụ thể nhằm để đạt được các mục tiêu đã đề ra.NSNN là một phạm trù kinh tế và lịch sử; là một thành phần tronghệ thống tài chính. Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/06/2015 định nghĩa như sau: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiệntrong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước.
Sự hình thành và phát triển của NSNNđi liền với sự xuất hiện và phát triển của nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước. Theo điều 6 và điều 9 Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 được Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật như sau: 1. Hệ thống NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND, theo quy định hiện hành, bao gồm : a) Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; b) Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn; c) Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã); Luan van 10 2. Quan hệ giữa ngân sách các cấp thực hiện theo các nguyên tắc sau : 2.Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách và số được bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới trên cơ sở bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương.Trong thời kỳ ổn định ngân sách: a) Không thay đổi tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách; b) Hằng năm, căn cứ khả năng cân đối của ngân sách cấp trên, cơ quan có thẩm quyền quyết định tăng thêm số bổ sung cân đối ngân sách từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới so với năm đầu thời kỳ ổn định; c) Số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được xác định theo nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách; khả năng của ngân sách cấp trên và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương cấp dưới; d) Các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hằng năm mà ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp nhằm tăng chi để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, giữ vữngan ninh quốc phòng. Đối với số tăng thu so với dự toán thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật NSNN. Trường hợp đặc biệt có phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách làm ngân sách địa phương tăng thu lớn thì số tăng thu phải nộp về ngân sách cấp trên.
Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định thu về ngân sách cấp trên số tăng thu này và thực hiện bổ sung có mục tiêu một phần cho ngân sách cấp dưới theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 40 của Luật NSNN để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ở địa phương theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đ) Trường hợp ngân sách địa phương hụt thu so với dự toán do nguyên nhân khách quan thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật NSNN.Sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên so với tổng chi ngân sách địa phương hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) nộp về ngân sách cấp trên đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp Luan van 11 ngân sách để tăng nguồn lực cho ngân sách cấp trên thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia và phát triển đồng đều giữa các địa phương. Không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác và không được dùng ngân sách của địa phương này để chi cho nhiệm vụ của địa phương khác, trừ các trường hợp sau: a) Ngân sách cấp dưới hỗ trợ cho các đơn vị thuộc cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong trường hợp cần khẩn trương huy động lực lượng cấp trên khi xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và các trường hợp cấp thiết khác để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của địa phương; b) Các đơn vị cấp trên quản lý đóng trên địa bàn khi thực hiện chức năng của mình, kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dưới; c) Sử dụng dự phòng ngân sách địa phương để hỗ trợ các địa phương khác khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa nghiêm trọng.Trường hợp thực hiện điều ước quốc tế dẫn đến giảm nguồn thu của ngân sách trung ương, Chính phủ trình Quốc hội điều chỉnh việc phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương để bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương Theo Luật NSNN năm 2015, Quy định về phân cấp quản lý NSNN thì Hệ thống NSNN được mô tả dưới hình sau: HỆ THỐNG NSNN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG NGÂN NGÂN SÁCH TỈNH SÁCH TRUNG NGÂN SÁCH HUYỆN ƯƠNG NGÂN SÁCH XÃ Sơ đồ 1.Hệ thống tổ chức ngân sách nhà nước Luan van 12 Căn cứ Điều 9 Luật NSNN năm 2015, Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN thì việc phân cấp quản lý NSNN phải đảm bảonhững nguyên tắc sau: 1. Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh của Nhà nước và khả năng quản lý của mỗi cấp trên địa bàn; 2. Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể : a) Ngân sách trung ương phải giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia như : các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có tác động đến cả nước hoặc nhiều địa phương, các chương trình, dự án quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng, điều phối hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách; b) Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý; 3.
Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, thời gian thực hiện phân cấp này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương; cấp xã được tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lý tài chính - ngân sách để quản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp; 4. Kết thúc mỗi kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhiệm vụ chi của từng cấp, theo thẩm quyền quy định tại các Điều 15, 16 và 25 của Luật NSNN, Quốc hội, HĐND điều chỉnh mức bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, HĐND cấp tỉnh sẽ quyết định việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp. Khái niệm, đặc điểm của ngân sách nhà nước cấp huyện NSNN cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (được gọi chung là ngân sách huyện) bao gồm hệ thống ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn. Ngân sách cấp huyện là một phạm trù lịch sử phản ánh các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và nhân dân trong quá trình khai thác, huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm bảo đảm, duy trì và thực hiện các chức năngđiều hành, quản lý của nhà nước ở chính quyền cơ sở (huyện, xã, thành phố thuộc tỉnh).
Tại Việt Nam, ngân sách huyện là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN. Ngân sách cấp huyện được coi là một bộ phận không thể tách rời của NSNN, là cấp ngân sách của chính quyền cơ sở do UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xây dựng, quản lý và sử dụng; do HĐND Huyện quyết định và giảm sát quá trình tổ chức vàđiều hành. Ngân sách Huyện được xây dựng trên cơ sở các nguồn thu của Huyện được phân cấp (kể cả nguồn trợ cấp của ngân sách cấp trên) và chỉ thực hiện các công việc thuộc về chức năng quản lý, trách nhiệm của chính quyền theo quy định. * Đặc điểm ngân sách huyện.
NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách nằm trong hệ thống củaNSNN nên ngân sách huyện có những đặc điểm chung của ngân sách nhà nước và còn mang một số đặc điểm riêng của một cấp ngân sách cơ sở, cụ thể: Ngân sách huyện gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước ở cấp cơ sở để thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước theo luật định. Cơ sở hoạt động của quỹ tiền tệ tập trung này được thể hiện ở hai phương diện: - Huy động nguồn thu vào quỹ hay còn gọi là nguồn thu ngân sách huyện. - Phân phối sử dụng quỹ tiền tệ hay còn gọi là nhiệm vụ chi ngân sách huyện.