CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Một số vấn đề về chính sách công 1. Chính sách công a. Khái niệm chính sách công Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững, ổn định.
Đặc điểm cơ bản của chính sách công - Các cơ quan nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công: Chính sách công do nhà nước ban hành, vì vậy có thể coi chính sách công là chính sách của nhà nước. Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước. - Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của chủ thể hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mà bao gồm những hoạt động tổ chức thực hiện các dự định nói trên. - Chính sách công gồm nhiều quyết định (bao gồm luật, các quyết định dưới luật.
Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền,. thậm chí cả những tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ) có liên quan với nhau, đó là một chuỗi các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài và mang tính lịch sử. - Tính hợp pháp là điểm khác biệt giữa chính sách công với các chính sách của các tổ chức trong khu vực tư nhân hay các đoàn thể xã hội. 6 - Chính sách công là sản phẩm của quá trình thực thi quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền (thông qua bộ máy nhà nước); cho nên chính sách đó trước hết phải mang tính giai cấp (phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền).
Song bên cạnh tính giai cấp, chính sách công còn đòi hỏi phải mang tính dân tộc (phù hợp với đặc điểm văn hóa, tâm lý, truyền thống dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng) và tính nhân loại (phù hợp với các xu hướng phát triển tiến bộ của nhân loại). Thực hiện chính sách công Thứ nhất, Khái niệm thực hiện chính sách công Thực hiện chính sách công là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với việc thành công hay thất bại của một chính sách. Theo TS Lê Chi Mai "thực thi chính sách là giai đoạn biến các ý đồ chính sách thành những kết quả thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra" [21] Chủ thể thực hiện chính sách trước hết và quan trọng nhất là các cơ quan hành chính nhà nước, bởi vì đây chính là cơ quan có nhiệm vụ quản lý và tổ chức triển khai các công việc hàng ngày của Nhà nước. Tuy nhiên, các cơ quan lập pháp và tư pháp cũng như các tổ chức Đảng, đoàn thể cũng có vai trò quan trọng trong việc huy động và tổ chức lực lượng tham gia triển khai chính sách.
[12] Như vậy thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý tưởng của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định hướng của Nhà nước. Trong quá trình thực hiện chính sách, các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ. và con người được đưa vào các hoạt động có tính định hướng để đạt được các mục tiêu đề ra. Thứ hai, Qui trình thực hiện chính sách công: Tổ chức thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách công thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách công.
So với các khâu khác trong chu trình chính sách công, tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội. Thực hiện chính sách công được thực hiện qua các bước: 7 - Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách. - Phổ biến, tuyên truyền chính sách. - Phân công, phối hợp thực hiện chính sách.
- Duy trì chính sách. - Điều chỉnh chính sách. - Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách. - Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm.
Những vấn đề cơ bản về NSNN và thực hiện chính sách quản lý NSNN cấp huyện 1. Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về NSNN ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thời kỳ, ngoài ra khái niệm về NSNN còn phụ thuộc vào quan điểm, mục đích nghiên cứu, nhưng xét về hình thức biểu hiện bên ngoài thì NSNN là một bảng dự toán thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoản thời gian nhất định, thường là một năm hoặc một số năm. Xét về nội dung vật chất, NSNN bao gồm những nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể, được định lượng.
Dương Đăng Chinh, thì “NSNN là phạm trù kinh kế và là phạm trù lịch sử. NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên cơ sở luật định”. [8] Như vậy NSNN phản ánh toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước, với mục đích là đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước, trong một thời gian nhất định. Hay nói một cách khác, ngân sách thường để chỉ tổng thể số thu và chi trong một thời gian (thường tính là một năm); là một bản tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó; nếu chủ thể đó là Nhà nước thì gọi là ngân sách nhà nước.
Theo Luật NSNN năm 2015 thì “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản 8 thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Từ các nghiên cứu trên có thể thấy: NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu là các khoản thu và chi của nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ. Phần thu được thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện các mục tiêu KT-XH; NSNN được lập và thực hiện trong một thời gian nhất định, thường là một năm và do cơ quan có thẩm quyền quyết định. Như vậy nội hàm của NSNN bao gồm: Về nội dung: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước.
Về điều kiện: NSNN chỉ có hiệu lực khi và chỉ khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định. Cơ quan này là đại diện cho ý chí của nhân dân (Quốc hội). Thời gian có hiệu lực: NSNN có hiệu lực trong vòng một năm (ở Việt Nam từ 1/1 đến 31/12). Mục đích: NSNN là để thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Nội dung và chức năng của Ngân sách nhà nước Thứ nhất, Nội dung ngân sách Nhà nước - Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; thu tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước; các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước; thu từ các hoạt động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; thu viện trợ của các tổ chức quốc tế không hoàn lại; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Thu ngân sách có các đặc điểm sau: + Thu NSNN được xây dựng trên nền tảng các khoản nghĩa vụ công dân, điển hình là thuế, các khoản phí, lệ phí, thu khác thuộc NSNN. + Các khoản thu ngân sách không mang tính bồi hoàn trực tiếp, mà nhà nước 9 sẽ dùng các khoản tiền thu được để tạo ra hàng hóa, dịch vụ và các hàng hóa này sẽ được chính người dân hưởng thụ. Như vậy, các khoản thu nhập công sẽ được chuyển lại cho người dân một cách gián tiếp, phục vụ công cộng.
+ Thu NSNN được gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước; nhà nước thu để thực hiện việc chi tiêu công mà không phải thu để tìm kiếm với mục đích lợi nhận. + Thu NSNN gắn liền với các dịch vụ công như dịch vụ thu thuế, phí, lệ phí của các cơ quan nhà nước ủy quyền. - Chi ngân sách nhà nước: Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi đầu tư phát triển; Chi dự trữ quốc gia; Chi cho an ninh quốc phòng; Chi thường xuyên bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; Chi trả nợ của Nhà nước; Chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Trong quá trình phân phối, sử dụng thì ngân quỹ tập trung của nhà nước luôn hướng đến đảm bảo hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước; chi NSNN bao gồm chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên; phạm vi và mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn liền với cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, đó là các khoản chi tiêu mang tính ổn định đảm bảo cho duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước như: chi sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, đảm bảo xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, chi cho sự nghiệp kinh tế, chi khác ngân sách,.
Cơ quan quyền lực các cấp có thẩm quyền quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương mình. Chi NSNN có đặc điểm sau: + Chi NSNN luôn hướng đến lợi ích chung của quốc gia và địa phương. Với đặc điểm này hướng đến mục tiêu duy trì ổn định và phát triển bền vững, vì lợi ích của nhân dân của toàn xã hội.