phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về nợ thuế và cưỡng chế thuế. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại huyện Đông Anh. Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại huyện Đông Anh. 9 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƢỠNG CHẾ THUẾ 1.
Những vấn đề cơ bản về quản lý nợ thuế 1. Khái niệm và đặc điểm của nợ thuế. Thuế ra đời là cần thiết khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Khi Nhà nước xuất hiện, để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một bộ phận của cải trong xã hội vào tay Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Việc huy động, tập trung nguồn của cải đó có thể được thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế. “Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc đối với các doanh nghiệp và mọi công dân có hoạt động kinh doanh hoặc có những điều kiện vật chất nhất định vào ngân sách Nhà nước (NSNN), do cơ quan quyền lực tối cao của Nhà nước quy định, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước” (Nguồn: Giáo trình Pháp luật kinh tế) Một trong những đặc trưng quan trọng của thuế là mang tính pháp lý cao. Mỗi khoản thuế phát sinh được xác định trên cơ sở thu nhập của người nộp thuế và sẽ trở thành khoản nộp bắt buộc mà người nộp thuế phải có nghĩa vụ chuyển giao cho Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tiễn do những lý do nào đó, người nộp thuế chưa nộp hoặc không nộp thuế cho Nhà nước theo thời hạn quy định, hình thành một khoản nợ thuế.
“Vậy nợ thuế là số tiền được xác định phải nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng đã quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp vào Ngân sách Nhà nước.” (Nguồn: Giáo trình Pháp luật kinh tế) Người nợ thuế là các tổ chức, cá nhân còn nợ các loại thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật. Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nợ thuế tại một thời điểm, ở một ngưỡng nào đó khi phân loại nợ. 10 z Để đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ thuế, thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật về thuế, Nhà nước quy định những hành vi nợ thuế phải nộp phạt một khoản tiền do chậm nộp thuế, gọi là tiền phạt chậm nộp thuế. Tiền phạt chậm nộp thuế là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ và số ngày nợ thuế của một khoản nợ.
Số ngày nợ thuế của một khoản nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào NSNN, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ luật lao động. Để hiểu rõ hơn nữa bản chất của nợ thuế, cần thiết phải nghiên cứu các đặc điểm của nợ thuế. Đặc điểm của nợ thuế. Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến.
Như chúng ta biết, thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc, mà người có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước. Rõ ràng, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế. Vì thế, ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, người nộp thuế luôn luôn có xu hướng trốn hoặc tránh thuế. Đặc biệt trong điều kiện như Việt Nam, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của công tác thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế.
Tình trạng trốn thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu cho Ngân sách Nhà nước, vừa không đảm bảo công bằng xã hội. Hay nói cách khác họ tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế mà đối tượng phải nộp. Một trong những cách đó là họ tìm cách nợ thuế. Vì thế, để hạn chế nợ thuế bên cạnh những biện pháp có tính chất luật pháp để cưỡng chế người nộp thuế tuân thủ thì vấn đề tuyên truyền phổ biến để người nộp thuế tự giác thực hiện có ý nghĩa rất quan trọng.
Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế. 11 z Quy phạm pháp luật về thuế bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. Trong các quy định của Pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, đối tượng nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế.
Như vậy, nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của đối tượng nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật thuế. Ttrong luật Quản lý thuế quy định mức xử phạt vi phạm về hành vi chậm nộp tiền thuế, tiền phạt là phạt 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đó. Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế. Hành vi trốn thuế bao gồm chậm nộp tiền thuế và không nộp tiền thuế.
Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm luật thuế của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp cho Nhà nước. Nợ thuế có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. Về chủ quan: do người nộp thuế cố tình vi phạm nhằm chậm nộp tiền thuế vào NSNN để lợi dụng hoặc trốn thuế. Như vậy, trong trường hợp này nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật, phát sinh do đối tượng nộp thuế không tự giác kê khai, nộp thuế và cố tình vi phạm pháp luật.
Về khách quan: do có khó khăn về sản xuất hoặc thu nhập chẳng hạn như khủng hoảng kinh tế, lạm phát, mà người nộp thuế tạm thời thiếu tiền nộp thuế. Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế. 12 z Tránh thuế là hành vi lợi dụng những sơ hở của luật pháp để giảm được một phần nghĩa vụ thuế phải nộp. Ví dụ: doanh nghiệp kê khai chi phí thuê bản quyền sáng chế, nhãn mác cao hơn giá trị thị trường của nó để tăng chi phí hạ thấp thu nhập chịu thuế.
Còn nợ thuế thì hoàn toàn khác về bản chất, đó là một nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình hoặc dây dưa nộp chậm. Các hình thức nợ thuế và điều kiện xuất hiện hành vi nợ thuế. Các hình thức nợ thuế. Căn cứ thông tin kê khai thuế, tài liệu, hồ sơ về người nộp thuế đã thu thập được, thông tin về người nợ thuế, số tiền nợ thuế từ bộ phận kê khai và kế toán thuế (phòng, đội) chuyển sang, công chắc quản lý nợ tiến hành phân loại nợ thuế theo các tiêu thức: - Nợ khó thu - Nợ chờ xử lý - Nợ có khả năng thu Phân loại nợ thuế nhằm xác định được nguyên nhân, tình trạng, tuổi nợ của từng khoản nợ thuế, qua đó có thể áp dụng các biện pháp quản lý nợ thuế có hiệu quả.
Căn cứ vào khả năng thu hồi tiền nợ thuế dựa trên những thông tin về người nợ thuế theo các tiêu thức đã phân tích, công chức được phân công theo dõi quản lý nợ tiến hành phân loại nợ như sau: Nhóm nợ khó thu Bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp sau: - Người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản: Là số tiền thuế nợ của người nợ thuế tự giải thể, phá sản nhưng không làm các thủ tục, trình tự giải thể phá sản đúng pháp luật nên chưa có đủ căn cứ pháp lý để xử lý theo quy định của pháp luật. - Người nợ thuế “bỏ trốn”, “mất tích”: Là số tiền nợ thuế của người nộp thuế đã được cơ quan thuế hoặc cơ quan chức năng xác định là “bỏ trốn”, “mất tích”. 13 z - Người nợ thuế bị khởi tố: Là số tiền thuế nợ của người nợ thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự hoặc đang chờ bản án hoặc kết luận của cơ quan pháp luật nên chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế. - Nợ của người nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế đã có thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế về việc ngừng hoặc tạm ngừng kinh doanh hoặc do cơ quan thuế kiểm tra xác định là đã ngừng hoặc tạm ngừng hoạt động kinh doanh.
- Nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản: Là số tiền thuế nợ của người nợ thuế đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phá sản doanh nghiệp (DN) nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định pháp luật. Nhóm nợ chờ xử lý: Bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp sau: - Nợ đang chờ điều chỉnh. + Nợ điều chỉnh do sai sót: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế do người nợ thuế hoặc cơ quan thuế có sai sót khi keek hai thuế, tính thuế, đang làm thủ tục để điều chỉnh lại; + Nợ điều chỉnh do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn số phát sinh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế do người nợ thuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theo quy định nhưng thực tế thuế phát sinh phải nộp thấp hơn so với số thuế đã kê khai tạm nộp, đang làm thủ tục để điều chỉnh lại. + Nợ do chứng từ luân chuyển chậm hoặc thất lạc: Là số tiền thuế của người nợ thuế đã nộp vào tài khoản thu Ngân sách Nhà nước nhưng do chứng từ luân chuyển chưa kịp thời hoặc thất lạc nên trên sổ thuế vẫn ghi nợ.