phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo; nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu gồm bốn chƣơng, cụ thể nhƣ sau: - Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi ngân sách nhà nƣớc tại các trƣờng đại học công lập. - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng về quản lý chi ngân sách nhà nƣớc ở Trƣờng Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội. - Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nƣớc ở Trƣờng Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Chi NSNN đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nó thƣờng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và phát triển quyền lực của nhà nƣớc. Cùng với sự phát triển đó, nó đòi hỏi một lý thuyết nhất quán và toàn diện để hiểu về chi NSNN và quản lý hiệu quả nó. Tác giả ngƣời Mỹ Mabel Waker đã quan tâm nhiều về tài chính công mà cụ thể là vấn đề phân bổ chi ngân sách, trong“Municipal Expenditures” - Nguyên lý chi tiêu, đƣợc xuất bản năm 1930, bà Mabel Waker đã tổng quan về lý thuyết chi NSNN và phát minh ra lý thuyết xác định và khuynh hƣớng phân bổ chi NSNN. Cũng nhận ra điều này, V.
Key (1940) đã viết bài báo nổi tiếng “The lack of a Budgetary Theory” - Sự thiếu hụt một lý thuyết ngân sách. Key đã chỉ ra các vấn đề khi không có lý thuyết ngân sách và phân tích tầm quan trọng của nó trong quản lý kinh tế vĩ mô cũng nhƣ gia tăng hiệu quả phân bổ ngân sách của chính phủ. Khi nghiên cứu sự tiến triển của các lý thuyết về ngân sách nhà nƣớc trong thời gian qua nhƣ: từ phƣơng thức ngân sách theo khoản mục, phƣơng thức ngân sách theo công việc thực hiện, phƣơng thức ngân sách theo chƣơng trình, cho đến phƣơng thức ngân sách theo kết quả đầu ra. Martin, Lawrence và Kettner đã so sánh và chỉ ra sự tiến triển trong các lý thuyết ngân sách trên trong nghiên cứu (1996) “Measuring the Performance of Human Service Programs” Đo đạc thực hiện các chƣơng trình dịch vụ con ngƣời, và chỉ rõ 6 đƣợc ƣu thế vƣợt trội của phƣơng pháp quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra.
Ngân sách theo kết quả đầu ra trả lời câu hỏi mà các nhà quản lý tài chính công luôn phải đặt ra đó là: “nên quyết định nhƣ thế nào để phân bổ X đôla cho hoạt động A thay vì cho hoạt động B”. Estelle James, Elizabeth M. King and Ace Suryadi - Bộ văn hóa và giáo dục, Jakarta, Inđônêxia (1999) đã đi vào so sánh hiệu quả của quản lý tài chính giáo dục khối công lập và khối dân lập, đƣa ra những khẳng định bƣớc đầu qua bài: “Tài chính, quản lý chi phí giữa các trƣờng công lập và tƣ thục ở Inđônêxia”. Bằng việc điều tra, phân tích số liệu của những vấn đề liên quan nhƣ: chi phí, hiệu quả của nó tƣơng ứng với mức chi phí bỏ ra, thu nhập của cán bộ công nhân viên chức trong các trƣờng học, số sinh viên đƣợc tuyển dụng sau khi tốt nghiệp các trƣờng dạy nghề, cao đẳng và Đại học,…để đƣa ra những giải pháp khắc phục tình trạng quản lý tài chính ở khối các trƣờng dân lập mang lại hiệu quả hơn khối các trƣờng công lập.
Năm 2003, Peter Lorange, Pergamon, tác giả của cuốn sách “Cách nhìn mới về quản lý giáo dục – thách thức đối với nhà quản lý” đã có rất nhiều điểm mới về quản lý giáo dục, trong cuốn sách của mình, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý tài chính, đặc biệt là nguồn tài chính từ Chính phủ cấp cho sự nghiệp giáo dục, tác giả đã đi sâu vào phân tích để tìm ra giải pháp cho quản lý giáo dục thông qua công tác quản lý tài chính, đặc biệt đã xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý tài chính cho các đơn vị thuộc khối giáo dục và đào tạo. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, thời gian gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học bao gồm các bài viết, các quan điểm, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề quản lý NSNN nói chung, quản lý chi NSNN nói riêng. Trong số đó, học viên xin nêu ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: 7 Bài viết “Đổi mới chính pháp luật về phân cấp quản lý NSNN”của ThS Nguyễn Thị Hoàng Yến đƣợc đăng trên Tạp chí Tài chính số 9 - 2013. Tác giả đã nêu ra một số bất cập trong phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, để đề xuất một số nội dung đổi mới pháp luật về phân cấp quản lý NSNN.
Luận án tiến sĩ “Phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay”của tác giảLê Toàn Thắng - học viện tài chính, năm 2013. Luận án đã: (i) Làm rõ các vấn đề liên quan đến quản lý NSNN nhƣ khái niệm NSNN, thu chi NSNN, nguyên tắc và nội dung quản lý NSNN;(ii) Phân tích cơ sở lý luận của phân cấp quản lý NSNN nhƣ: Khái niệm phân cấp quản lý NSNN, mục đích, căn cứ và nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN, nội dung phân cấp quản lý NSNN và các yếu tố ảnh hƣởng; (iii) Phân tích đánh giá về thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam, nêu lên những đánh giá về ƣu điểm và tồn tại cũng nhƣ nguyên nhân của những tồn tại trong phâp cấp quản lý NSNN ở Việt Nam hiện nay; (iv) Dự báo những định hƣớng và đề xuất một số giải pháp về phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam. Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Đức Cân (2012), “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường Đại học công lập ở Việt Nam”, luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, làm rõ bản chất, phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến tự chủ tài chính, cơ chế tự chủ tài chính và đi sâu phân tích thực trạng Nghị định 43/2006/NĐ-CP và những giải pháp về tạo nguồn tài chính cho các trƣờng đại học công lập; xây dựng, thành lập doanh nghiệp và tiến hành cổ phần hóa một số bộ phận phục vụ trong nhà trƣờng; tính linh hoạt, tính ràng buộc, giao quyền của cơ chế tự chủ tài chính. Tuy nhiên luận án đề xuất việc hoàn thiện cơ chế chung cho các trƣờng đại học công lập nên khó có thể sử dụng mô hình để vận hành cụ thể đối với một đơn vị đặc thù nhƣ Đại học Quốc gia.
Luận án tiến sĩ kinh tế: “Hoàn thiêṇ cơ chếlập dự toán chi ngân sách nhà nước gắn với kếhoạch phát triển kinh tế - xã hôị ở Việt Nam” của tác giả 8 Ngô Thanh Hoàng (2013) đã chỉ ra cơ chếlâp̣ dự toán Ngân sách Nhà nƣớc theo khuôn khổchi tiêu trung hạn đã bắt đầu đƣợc nghiên cứu và thử nghiêṃ ở Việt Nam , tuy nhiên làm thếnào đểcó đƣợc cơ chếđồng bô ̣ , hoàn thiêṇ nhằm gắn kết cơ chếlâp̣ dự toán với kếhoạch phát triển kinh tếxã hôịđểđạt đƣợc các mục tiêu kếhoạch phát triển kinh tếxã hôịvẫn là môṭthách thức không chỉ cho những nhà nghiên cứu mà còn cho cả các nhà quản lý thực tiêñ. Luận án nghiên cứu các nội dung khoa học chủ yếu liên quan tới lập kế hoạch phát triển KTXH và lập dự toán chi NSNN cũng nhƣ cơ chế gắn kết giữa lập dự toán chi NSNN với kế hoạch phát triển KTXH ở Việt Nam trong những năm qua, phân tích cơ chế gắn kết giữa lập dự toán chi NSNN hàng năm theo Luật Ngân sách 2002 với kế hoạch phát triển KTXH từ đó so sánh, phân tích, liên hệ tìm ra một số giải pháp liên quan đến cơ chế gắn kết. Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Vũ Thị Thanh Thủy (2012) với đề tài “Quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam”. Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề về quản lý tài chính, đặc biệt là quản lý chi NSNN trong các trƣờng đại học công lập ở Việt Nam, tác giả đã luận giải các điều kiện để tăng cƣờng tự chủ tài chính cho các trƣờng đai học công lập, hƣớng tới phát triển bền vững tài chính, thiết lập điều kiện về tự chủ tài chính, xây dựng chỉ tiêu đánh giá quản lý tài chính trong đó có những chỉ tiêu liên quan đến đánh giá, quản lý chi NSNN cho các trƣờng đại học công lập gắn với kết quả đầu ra; đánh giá thực trạng quản lý tài chính và đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính các trƣờng đại học công lập Việt Nam.
Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động quản lý chi NSNN Trên cơ sở nghiên cứu các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc về hoạt động quản lý chi ngân sách nhà nƣớc đã trình bày ở trên, tác giả nhận thấy còn có những khoảng trống nhất định cần tiếp tục nghiên cứu, cụ thể: 9 Thứ nhất, đối với các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc, nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên gần nhƣ đã trang bị toàn bộ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phân tích và đánh giá quản lý chi NSNN và các giải pháp nhằm quản lý chi NSNN ở mỗi nƣớc nghiên cứu hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc ứng dụng để đánh giá thực trạng và đƣa ra các giải pháp quản lý chi NSNN tại trƣờng Đại học Giáo dục hoặc ở từng địa phƣơng ở Việt Nam thì cần phải vận dụng linh hoạt và phải phù hợp với những điều kiện nhất định. Thứ hai, các công trình nghiên cứu trong nƣớc đã cho thấy đƣợc các nghiên cứu đã có ít nhiều đóng góp cho các nhà quản lý trong việc tăng cƣờng quản lý chi NSNN. Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn chƣa thể chứng minh đƣợc các mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý chi NSNN tại một trƣờng đại học công lập cụ thể hoặc một địa bàn nhất định, nhân tố nào ảnh hƣởng nhiều nhất, nhân tố nào ảnh hƣởng ít nhất, và chƣa định lƣợng mức độ tác động của từng nhân tố đến quản lý chi NSNN, để từ đó giải pháp đề ra sẽ tập trung vào giải pháp cho nhân tố có ảnh hƣởng nhiều nhất đến quản lý chi NSNN, có nhƣ thế giải pháp mới có tính thuyết phục.