phần mở đầu và kết luận, đề tài luận văn kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi đầu tƣ XDCB từ nguồn NSNN. Thực trạng công tác quản lý chi đầu tƣ XDCB từ nguồn NSNN trên địa bàn TP Sầm Sơn. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi đầu tƣ XDCB từ nguồn NSNN trên địa bàn TP Sầm Sơn.
4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan lý luận về quản lý chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nƣớc 1. Một số vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nƣớc (NSNN) ra đời cùng với sự hình thành nhà nƣớc và sự phát triển của kinh tế hàng hoá tiền tệ.
NSNN luôn gắn với bản chất của nhà nƣớc và quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc. NSNN là sự phản ánh tổng hợp các mối quan hệ về kinh tế giữa nhà nƣớc với các chủ thể khác trong việc phân phối các đại lƣợng giá trị tiền tệ trong xã hội. Bằng sức mạnh quyền lực của mình, nhà nƣớc chuyển dịch một bộ phận thu nhập của các chủ thể khác nhau thành thu nhập của nhà nƣớc rồi phân phối, chuyển dịch khoản thu nhập đó đến đối tƣợng sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [22].
Luật này cũng quy định về trình tự lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết toán NSNN và về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nƣớc các cấp trong lĩnh vực quản lý NSNN. NSNN là một phạm trù kinh tế, là một công cụ tài chính quan trọng của Nhà nƣớc để thực hiện huy động và phân phối vốn đầu tƣ thông qua hoạt động thu, chi NSNN các cấp. Các khoản thu NSNN bao gồm: Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nƣớc, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. 5 Các khoản chi NSNN bao gồm: Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo đảm các hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc, chi trả nợ Nhà nƣớc, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Trong thực tiễn hoạt động, Ngân sách nhà nƣớc là hoạt động thu (tạo thu) và chi tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà Nƣớc, làm cho nguồn tài chính vận động giữa một bên là Nhà nƣớc với một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dƣới hình thức giá trị. Đằng sau các hoạt động thu, chi đó chứa đựng các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nƣớc với chủ thể khác. Nói cách khác, ngân sách nhà nƣớc phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nƣớc với các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế - xã hội và trong phân phối tổng sản phẩm xã hội. Thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể thành thu nhập của Nhà nƣớc và nhà nƣớc chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể đƣợc thụ hƣởng nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc [19].
Thứ nhất, ngân sách nhà nƣớc là kế hoạch tài chính vĩ mô trong các kế hoạch tài chính của Nhà nƣớc để quản lý các hoạt động Kinh tế - Xã hội. Thứ hai, xét về mặt thực thể, ngân sách nhà nƣớc là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nƣớc. Thứ ba, ngân sách nhà nƣớc là khâu chủ đạo trong hệ thống các khâu tài chính. Các nguồn tài chính đƣợc tập trung vào ngân sách nhà nƣớc nhờ vào việc nhà nƣớc tham gia vào quá trình phân phối và phân phối lại các nguồn tài chính quốc gia dƣới hình thức thuế và các hình thức thu khác.
Đặc điểm của ngân sách nhà nước NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dƣỡng bộ máy Nhà nƣớc, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nƣớc quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau [18]: - Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nƣớc, đƣợc Nhà nƣớc tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. 6 - Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nƣớc và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Nhà nƣớc là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu - chi của NSNN và hoạt động thu - chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nƣớc giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nƣớc với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cƣ. - Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi.
Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo. Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ. - Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nƣớc, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình.
Trong đó tài chính nhà nƣớc là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Chức năng của ngân sách nhà nước NSNN có một vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nƣớc. Chức năng, vai trò của NSNN luôn gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc và nó tuỳ thuộc vào từng thời kỳ, từng giai đoạn khác nhau mà có những biểu hiện khác nhau và luôn thể hiện ba chức năng chính [30]. - Chức năng thứ nhất là chức năng phân phối: đây là công cụ chủ yếu phân bổ trực tiếp hoặc gián tiếp các nguồn tài chính của quốc gia; Cung cấp các phƣơng tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, đảm bảo an ninh quốc gia, giữ vững trật tự an toàn xã hội, đảm bảo phát triển đời sống kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
- Chức năng thứ hai là chức năng điều tiết: đây là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội. Là công cụ tài chính quan trọng để quản lý điều chỉnh các hoạt động kinh tế xã hội của đất nƣớc; Định hƣớng phát triển nền kinh tế, sản xuất, điều tiết thị trƣờng, bình ổn giá cả, điều chỉnh trong lĩnh vực thu 7 nhập nhằm đem lại sự công bằng và thực hiện việc giải quyết những vấn đề, những mâu thuẫn nảy sinh trong xã hội. - Chức năng thứ ba là chức năng kiểm tra: xuất phát từ mối quan hệ mật thiết của NSNN với các khâu trong hệ thống tài chính quốc gia, xuất phát từ lợi ích chung, NSNN kiểm tra các hoạt động tài chính trong việc làm nghĩa vụ nộp thuế, các khoản phải nộp, việc sử dụng các nguồn tài chính Nhà nƣớc, sử dụng các tài sản quốc gia và việc thực hiện luật pháp, chính sách về ngân sách cũng nhƣ các pháp luật, chính sách có liên quan khác. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước 1.
Đầu tư và đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tƣ là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu đƣợc các kết quả, thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. Kết quả mang lại đó có thể là hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội. Theo khái niệm về đầu tƣ tại Luật đầu tƣ số 67/2014/QH 13: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [29]. Tóm lại, hoạt động đầu tƣ là quá trình sử dụng chi đầu tƣ nhằm duy trì những tiềm lực sẵn có, hoặc tạo thêm tiềm lực mới để mở rộng qui mô hoạt động của các ngành sản xuất, dịch vụ, kinh tế, xã hội nhằm tăng trƣởng và phát triển nền kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần cho mọi thành viên trong xã hội.
Đầu tƣ có nhiều loại: Đầu tƣ trực tiếp, đầu tƣ gián tiếp (cho vay); đầu tƣ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đầu tƣ dài hạn thƣờng gắn với đầu tƣ xây dựng tài sản cố định - gắn với đầu tƣ XDCB. Do vậy, có thể hiểu nhƣ sau [24]: Đầu tƣ XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tƣ nói chung, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn 8 và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định. Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước a) Khái niệm Chi đầu tƣ XDCB là toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt đƣợc mục đích đầu tƣ, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tƣ, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác đƣợc ghi trong tổng dự toán [20].
Trong đầu tƣ XDCB thì chi đầu tƣ XDCB là yếu tố tiền đề quan trọng không thể thiếu đƣợc để xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân góp phần thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nhu cầu chi đầu tƣ XDCB là rất lớn, cần có cơ chế để giải quyết nguồn huy động vốn trong điều kiện nền kinh tế còn thiếu chi đầu tƣ.