mở đầu của mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất nhằm tạo năng lực sản xuất cho kinh tế. ĐT-XDCB chính là một phần tiết kiệm những tiêu dùng hiện tại của xã hội thay vì bằng những tiêu dùng lớn hơn trong tương lai. Để tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế là những điều kiện kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế: Xây dựng hệ thống hạ tầng, các nhà máy, mua sắm các thiết bị, dây chuyền công nghệ tiên tiến hiện đại v.v…ĐT- XDCB cần một lượng vốn lớn. Muốn đáp ứng được điều đó các Quốc gia phải phát huy mọi tiềm năng nguồn lực trong nước như: Tiết kiệm từ nội bộ nền kinh tế, các nguồn lực trong các tầng lớp dân cư.
Đồng thời phải tìm mọi giải pháp để thu các nguồn lực nước ngoài: vốn ODA, FDI, NGO.v… Xuất phát từ đặc điểm này đòi hỏi chúng ta trong việc huy động và sử dụng VĐT-XDCB phải giải quyết mối quan hệ giũa tích kuỹ và tiêu dùng, nếu không giải quyết tốt mối quan hệ này sẽ xuất hiện mâu thuẫn gay gắt giữa đầu tư và tiêu dùng. 7 Thứ hai: Quá trình ĐT-XDCB phải trải qua một quá trình lao động rất dài mới có thể sử dụng được, thời gian hoàn vốn lâu vì sản phẩm XDCB mang tính chất đặc biệt và tổng hợp. Sản xuất không theo một dây chuyền hàng loạt mà mỗi một công trình dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụ thuộc nhiều yếu tố điều kiện tự nhiên, địa điểm hoạt động thay đổi liên tục phân tán. Thời gian khai thác và sử dụng lâu dài thường là 10 năm, 20 năm, 50 năm hoặc lâu dài tuỳ thuộc vào tính chất dự án.
Quá trình ĐT-XDCB gồm 3 giai đoạn : Xây dựng dự án, thực hiện dự án và khai thác dự án. Giai đoạn xây dựng dự án, giai đoạn thực hiện dự án là giai đoạn kéo dài thời gian nhưng không tạo ra sản phẩm. Đây là nguyên nhân chính gây ra mâu thuẫn giữa đầu tư và tiêu dùng. Các nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bất động hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này.
Muốn nâng cao hiệu quả VĐT-XDCB cần chú ý tập trung các điều kiện đầu tư có trọng điểm nhằm đưa nhanh các dự án đầu tư vào khai thác sử dụng. Khi xem xét hiệu quả VĐT-XDCB cần quan tâm xem xét cả 3 giai đoạn của quá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện dự án, tức là việc đầu tư vào xây dựng các dự án mà không chú ý thời gian khai thác dự án. Việc coi trọng hiệu quả kinh tế do ĐT-XDCB mang lại là hết sức cần thiết nên phải có phương án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự XDCB. Chính vì chu kỳ sản xuất kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn cho thích hợp để giảm đến mức tối đa thiệt hai do ứ đọng vốn ở sản phẩm dở dang.
Thứ ba: Đầu tư là lĩnh vực có mức độ rủi ro lớn và mạo hiểm, đầu tư chính là việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại để mong nhận được những tiêu dùng lớn hơn nhưng chưa thật chắc chắn trong tương lai. “chưa thật chắc chắn” chính là yếu tố rủi ro mạo hiểm. Vì vậy có nhà kinh tế nói rằng đầu tư là đánh bạc với tương lai. 8 Rủi ro trong lĩnh vực ĐT-XDCB chủ yếu do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài.
Trong thời gian này các yéu tố kinh tế, chính trị, và cả tự nhiên ảnh hưởng sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường định hết được khi lập dư án. Các yếu tố như bão lụt, động đất, chiên tranh có thể tàn phá các công trình được đầu tư. Sư thay đổi chính sách như quốc hữu hoá các cơ sở sản xuất, thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thay đổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho các nhà đầu tư. Đặc điểm này chỉ ra rằng, muốn khuyến khích đầu tư cần phải quan tâm đến lợi ích của các nhà đầu tư.
Lợi ích mà các nhà đầu tư quan tâm nhất là hoàn đủ vốn đầu tư cho họ và lợi nhuận tối đa thu được nhờ hạn chế và tránh được rủi ro. Do đó họ mong hoàn vốn nhanh và có lãi. Vì vậy các chính sách khuyến khích đầu tư cần quan tâm đến ưu đãi, miễn giảm thuê, về khấu hao cao, lãi suất vốn vay thấp, cơ chế thanh toán nhanh kịp thời.v… Thứ tư: Sản phẩm của ĐT-XDCB có tính cố định gắn liền với đất đai nơi sản xuất và sử dụng, sau khi xây dựng xong cố định tại một chỗ. “Các thành quả của hoạt động ĐT-XDCB là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ngay nơi mà nó được tạo dựng nên.
Do đó các điều kiện địa hình tại nơi đó có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện dự án đầu tư cũng như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư”. Quá trình sản xuất thường tiến hành ngoài trời bị ảnh hưởng rất lớn do điều kiện thiên nhiên. Vật liệu xây dựng nhiều, có trọng lượng lớn nhất là xây đựng phần thô chủ yếu là vật liệu nặng, nhu cầu vận chuyển lớn, chi phí vận chuyển cao. Đòi hỏi phải có tổ chức cung ứng vật tư kỹ thuật đặc biệt; phải đưa vật liệu tới tận công trình theo tiến độ thi công, chỉ tổ chức kho trung gian cho những vật liệu dùng trong công tác hoàn hiện.
Đối với vật liệu có khối lượng lớn không thể dự trữ ở kho nhiều. Không thể dự trữ vật liệu và bán thành phẩm đảm bảo cho sản xuất như các ngành công nghiệp khác. Nơi làm việc và lực lượng lao động không ổn định, điều kiện bất lợi cho quá trình XDCB dẫn tới nhiều thời gian ngừng việc, chờ đợi, năng sất lao động thấp; dễ 9 gây tâm lý tạm bợ, tuỳ tiện trong làm việc và sinh hoạt của cán bộ công nhân ở công trường. Để thực hiện một dự án ĐT-XDCB phải trải qua nhiều giai đoạn, có rất nhiều đơn vị tham gia thực hiện.
Trên một công trường có hàng chục đơn vị làm các công việc khác nhau; các đơn vị này cùng hoạt động trên một không gian, thời gian, trong tổ chức thi công cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau bằng các hợp đồng giao nhận thầu xây dựng nhưng nói chung cách thức giao nhận thầu chưa được cải tiến, giá bán được định trước khi chế tạo sản phẩm tức là trước khi nhà thầu biết giá thành thực tế của mình, ước lượng đúng đắn giá cả và các phương tiện thi công rất khó khăn vì phải dựa trên những giả thiết mà rất có thể khi thi công thực tế bị phủ nhận. Điều phụ thuộc này buộc các nhà thầu phải nắm chắc dự toán và kiểm tra thường xuyên trong quá trình thi công. Ngoài những đặc điểm của ĐT-XDCB nói chung thì ĐT-XDCB từ NSNN còn có đặc điểm riêng, đó là quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn ĐT-XDCB bị tách rời nhau. Vốn ĐT-XDCB từ NSNN là thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.
Nhà nước là chủ thể có quyền chi phối và định đoạt nguồn vốn NSNN dành cho ĐT-XDCB , và là người đề ra chủ trương đầu tư, có thẩm quyền quyết định đầu tư, phê duyệt thiết kế dự toán (tổng dự toán). Song, quyền sử dụng vốn ĐT-XDCB Nhà nước lại giao cho một tổ chức khác bằng việc thành lập các Chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án. Chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án là người được Nhà nước giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo qui định của pháp luật. Xuất phát từ đặc điểm này mà quản lý vốn ĐT-XDCB từ NSNN dễ bị thất thoát.
Nếu các Chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án không nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đáp ứng được yêu cầu quản lý; Nhà nước không tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra bằng những cơ chế chính sách ràng buộc trách nhiệm thì thất thoát lãng phí trong ĐT-XDCB từ vốn NSNN là không thể tránh khỏi.4 Phân loại ĐT-XDCB. Để đáp ứng yêu cầu và mục đích nghiên cứu việc sử dụng vốn ĐT-XDCB các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân loại ĐT-XDCB theo những tiêu thức khác nhau, sau đây là một số cách phân loại chủ yếu: Một là, dựa vào công dụng, ĐT-XDCB trước hết được phân thành khu vực: - ĐT vào khu vực 1. - ĐT vào khu vực 2. - ĐT vào khu vực 3.
Theo phân loại này ĐT-XDCB còn được chia thành đầu tư vào các ngành và các phân ngành cụ thể. Phân loại ĐT-XDCB theo tiêu thức này tạo điều kiện cho việc xây dựng một cơ cấu đầu tư cân đối hợp lý giữa các khu vực và các ngành của nền kinh tế quốc dân. Hai là, dựa vào loại hình xây dựng, ĐT-XDCB được chia thành: - Đầu tư xây dựng mới: là việc đầu tư để xây dựng những đối tượng hoàn toàn mới không gắn liền với các cơ sở sẵn có đang hoạt động. Đây là hình thức TSXMR TSCĐ.
Nhờ hình thức này mà năng lực sản xuất được tăng lên cả về số lượng và chất lượng. - Đầu tư xây dựng mở rộng và đổi mới máy móc thiết bị: Là đầu tư để mở rộng năng lực sản xuất hiện có đang hoạt động (đầu tư mở rộng), hoặc thay thế những máy móc cũ hiện có bằng những máy móc, thiết bị mới tiên tiến hiện đại hơn (đổi mới máy móc thiết bị). Đây cũng là hình thức TSXMR TSCĐ và được coi là đầu tư chiều sâu. - Đầu tư khôi phục: Là việc đầu tư nhằm khôi phục những đối tượng vốn đang hoạt động nhưng vì một lý do nào đó(thiên tai, chiến tranh v.v…) mà bị hư hỏng không hoạt động được nữa.
Đây là hình thức TSXNR TSCĐ. Phân loại theo hình thức này giúp ta quan sát quá trình đầu tư trong mối quan hệ đầu tư chiều sâu và đầu tư chiều rộng, qua đó thấy được những nét chung về chất lượng tài sản cố định và hiệu quả đầu tư. Ba là, dựa vào cấu thành, ĐT-XDCB được chia thành: 11 - Đầu tư xây lắp: bao gồm đầu tư cho việc xay dựng nhà cửa vật kiến trúc, lắp đặt máy móc thiết bị, đầu tư sửa chữa nhà cửa vật kiến trúc v.v… - Đầu tư thiết bị: Là việc đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, bao gồm thiết bị không cần lắp và thiết bị cần lắp.