Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý chất thải rắn khu dân cư và pháp luật về quản lý chất thải rắn khu dân cư. - Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý chất thải rắn khu dân cư và thực tiễn thi hành trên địa bàn Thị xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc. - Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn khu dân cư và nâng cao hiệu quả thi hành từ thực tiễn của Thị xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN KHU DÂN CƢ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN KHU DÂN CƢ 1.
LÝ LUẬN VỀ CHẤT THẢI RẮN KHU DÂN CƯ 1. Khái niệm chất thải “Chất thải” là một khái niệm được sử dụng phổ biến trong các quy phạm pháp luật về môi trường. Để có thể hiểu rõ được nội hàm của khái niệm này, chúng ta có thể tìm hiểu theo các góc độ sau đây: Thứ nhất, dưới góc độ ngôn ngữ học. Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ Điển học Vietlex, Nxb Đà Nẵng năm 2006 thì “chất thải” được định nghĩa là “rác là các vật bị bỏ đi sau một quá trình sử dụng nói chung”.
Theo cách hiểu của khái niệm này, chất thải bao gồm rác là những thứ vụn vặt bị vất bỏ vương vãi, làm bẩn và đồ vật không có giá trị, không có tác dụng nên không được giữ lại. Mặc dù, mang tính chất liệt kê nhưng khái niệm đã đưa ra hai tiêu chí để phân biệt chất thải với vật chất tồn tại dưới dạng khác; bao gồm: Một là, chất thải tồn tại dưới dạng vật chất; Hai là, chất thải là các vật chất (đồ vật) không có giá trị, không có tác dụng và không bị chiếm hữu, sử dụng nữa. Tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê và xác định chất thải sinh ra trong sinh hoạt mà chưa khái quát tất cả các loại chất thải được sản sinh trong những hoạt động khác nhau của con người như sản xuất - kinh doanh, dịch vụ v. Khái niệm này cũng không đưa ra đối tượng quyết định về giá trị, tác dụng của đồ vật và quyết định không chiếm hữu, không sử dụng đồ vật nữa.
Giá trị của một đồ vật đối với chủ sở hữu và đối với xã hội có thể không thống nhất. Do đó, không có cơ sở chính xác cho việc đánh giá một vật chất có phải là chất thải hay không. Từ điển Môi trường Anh - Việt và Việt Anh định nghĩa “chất thải (waste) là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh ra nó không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ”. Khái niệm này đã đưa ra ba yếu tố để phân biệt chất thải, đó là: i) Chất thải là vật chất tồn tại dưới các dạng rắn, lỏng, khí; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ii) Vật chất đó không còn giá trị sử dụng đối với cơ thể và hệ thống sinh ra nó; iii) Phải có biện pháp thải bỏ đối với vật chất đó.
Khái niệm này có ưu điểm là đưa ra các dạng tồn tại chủ yếu của chất thải và tiêu chí để xác định một chất trở thành chất thải. Tiêu chí mà định nghĩa đưa ra dựa trên nhu cầu sử dụng của “hệ thống sinh ra vật chất đó”. Khi hệ thống đó “không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ” thì vật chất đó trở thành chất thải. Yếu tố “không còn sử dụng được nữa” có thể do ý chí của chủ sở hữu vật chất đó không có ý định tiếp tục sử dụng hoặc do đặc thù của hoạt động sản sinh ra vật chất nên chủ sở hữu không có khả năng tiếp tục sử dụng.
Đây là các hình thức từ bỏ vật chất mang tính chủ động và từ bỏ vật chất mang tính chất bị động. Thứ hai, dưới góc độ luật học. Khái niệm chất thải hiện diện trong pháp luật quốc tế về môi trường, được đề cập tại Công ước Basel. Điều 2 khoản 1 Công ước Basel định nghĩa “Chất thải là chất hoặc các đồ vật mà người ta tiêu hủy, có ý định tiêu hủy hoặc phải tiêu hủy theo quy định của pháp luật quốc gia”.
Theo đó, yếu tố quyết định để xác định một vật chất hoặc đồ vật có phải là chất thải hay không phụ thuộc vào việc vật chất hoặc đồ vật đó có bị chủ sở hữu “tiêu hủy, có ý định tiêu hủy hoặc phải tiêu hủy” hay không. Khái niệm “tiêu hủy” được cụ thể hóa tại Phụ lục IV của Công ước Basel. Phụ lục này phân biệt các quá trình tiêu hủy nhằm tận dụng lại, tái chế, trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụng lại (mục B) với quá trình tiêu hủy không nhằm mục đích trên (mục A). Được hiểu là “tiêu hủy hoặc có ý định tiêu hủy” khi chủ sở hữu hợp pháp thực hiện hoặc thông qua hành vi của mình thể hiện mong muốn thực hiện một trong những biện pháp được quy định tại Phụ lục IV của Công ước.
Khi pháp luật quốc gia quy định, chủ sở hữu vật chất hoặc đồ vật đó là chất thải, vì lúc này nó thỏa mãn điều kiện “phải tiêu hủy theo quy định của pháp luật quốc gia”. Với quy định của Phụ lục IV của Công ước Basel, một vật chất là chất thải không phụ thuộc vào mục đích cụ thể của quá trình tiêu hủy. Như vậy, giá trị sử dụng còn lại, khả năng tái chế, tái sử dụng của vật chất hoặc đồ vật không có ý nghĩa trong việc xác định một vật chất là chất thải. Khái niệm chất thải còn được đề cập trong pháp luật của các Khối liên kết 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế - chính trị, ví dụ: Liên minh Châu Âu (EU).
Điều 1 Nghị định số 259/94 của EU về vận chuyển chất thải ngày 01/2/1993, có hiệu lực ngày 06/05/1994 (sau đây gọi là Nghị định số 259/93 của EU) định nghĩa: “Chất thải có nghĩa là bất kỳ chất hoặc vật nào nằm trong danh mục phân loại tại Phụ lục I mà người giữ chúng thải bỏ, có ý định hoặc được yêu cầu thải bỏ”. Theo định nghĩa này, một vật chất sẽ là chất thải khi chủ sở hữu hoặc người chiếm giữ hợp pháp vật chất đó không có ý định sử dụng hoặc không được tiếp tục sử dụng theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, giá trị sử dụng về mặt xã hội của vật chất đó không là một tiêu chí để xác định một vật chất là chất thải hay không. Tại Việt Nam, Khoản 10 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 (Luật BVMT năm 2005) định nghĩa chất thải như sau: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.
Theo định nghĩa trên, các vật chất được coi là chất thải khi người chủ sở hữu thải ra trong các hoạt động khác nhau. Quy định này đã được sửa đổi tại Khoản 12 Điều 3 Luật BVMT năm 2014, theo đó “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Quy định mới này đã bỏ cụm từ “ở thể rắn, lỏng, khí” trong quy định tại Khoản 10, Điều 3 Luật BVMT năm 2005. Điều này có nghĩa là, Luật BVMT năm 2014 đã mở rộng phạm vi các loại chất thải hơn so với quy định của Luật BVMT năm 2005.
Bởi lẽ, chất thải không nhất thiết phải tồn tại ở một dạng vật chất bất kì nào trong ba dạng là rắn, lỏng hoặc khí, mà chỉ cần điều kiện duy nhất là “được thải ra” từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc bất kì hoạt động nào khác. Yếu tố “được thải ra” ở đây được hiểu theo các cách hiểu sau: Một là, chủ sở hữu chủ động từ bỏ ý định sử dụng vật chất đó vào bất cứ mục đích nào. Điều này có nghĩa là một chất tồn tại dưới dạng chất thải hay không phụ thuộc vào ý chí của người chủ sở hữu vật chất đó. Khi chủ sở hữu từ bỏ ý định khai thác giá trị, công dụng của vật chất thì nó trở thành chất thải, không phụ thuộc vào giá trị sử dụng thực tế đối với xã hội, đối với người khác và đối với chu trình hoạt động khác của con người.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai là, do đặc thù hoạt động của mình, chủ sở hữu phải thải bỏ vật chất và hoạt động thải bỏ này không phụ thuộc vào ý chí của họ. Hoạt động thải bỏ này mang tính chất bị động đối với chủ sở hữu cũng như đối với các đối tượng khác, kể cả Nhà nước. Ví dụ: hoạt động đốt nhiên liệu tất yếu sẽ sản sinh khí thải, không phụ thuộc vào việc người đốt nhiên liệu có mong muốn hay không. Việc đánh giá trên thực tế đối với hành vi “từ bỏ ý định khai thác giá trị, công dụng” của chủ sở hữu phải được xem xét một cách cụ thể đối với từng trường hợp.
Khi chủ sở hữu “từ bỏ ý định khai thác giá trị, công dụng” của một vật chất nhưng ngay sau đó xuất hiện nhu cầu sử dụng vật chất đó với mục đích khác hoặc cũng với mục đích trước đó thì vật chất đó không là chất thải. Ví dụ như những đồ vật cũ mà người chủ sở hữu không còn nhu cầu sử dụng, không có “ý định khai thác giá trị, công dụng” của nó nhưng chủ sở hữu ngay sau khi từ bỏ bán cho người khác sử dụng với tư cách là hàng cũ (hàng second-hand) thì vật chất này không phải là chất thải [19]. Trong trường hợp chủ sở hữu từ bỏ ý định khai thác giá trị, công dụng của một vật chất và để sử dụng được vật chất đó thì con người phải thực hiện những biện pháp như phân loại, tái chế… Vật chất đó sẽ tồn tại dưới dạng chất thải kể từ khi chủ sở hữu “thải ra” cho tới khi con người hoàn thành hoạt động phân loại, tái chế… với mức độ có thể sử dụng được và đưa nó vào sử dụng trên thực tế. Ví dụ, chất rắn của một doanh nghiệp cơ khí được thải ra từ hoạt động sản xuất có thể là hỗn hợp của nhiều loại vật chất, trong đó chủ yếu là sắt thép.
Sắt thép trong hỗn hợp này là chất thải cho tới khi nó được phân loại riêng, làm sạch để có thể đủ điều kiện trở thành nguyên liệu của một chu trình sản xuất khác và biểu hiện thực tế sẽ đưa nó vào sử dụng.