đặt vấn đề chất lượng dịch vụ lên hàng đầu để nhận được ngày càng nhiều sự sử dụng của khách hàng. Do đó, tiếp cận quản lý chất lượng là một hướng đi thích hợp mà hiện nay số các công trình nghiên cứu thực tiễn quản lý trường MNTT chưa nhiều, nghiên cứu theo tiếp cận quản lý chất lượng gần như chưa thấy.Cho nên, việc nghiên cứu “Quản lý trường MNTT “Mẹ Yêu Con” quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo tiếp cận quản lý chất lượng” là việc làm cần thiết để áp dụng cho chính cơ sở giáo dục này và còn có thể có những ứng dụng nhất định cho các trường MNTT khác. Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về quản lý, quản lý chất lượng, quản lý nhà trường, những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, cùng với việc nghiên cứu thực tiễn điều hành quản lý nhà trường, tác giả luận văn mong muốn sẽ đóng góp nhất định cho việc định hướng lý luận cho hoạt động trong giai đoạn tới của trường MNTT “Mẹ Yêu Con” nói riêng và đóng góp về lý luận cho việc nghiên cứu và ứng dụng quản lý chất lượng vào quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Các khái niệm, thuật ngữ cơ bản 1.
Quản lý Quản lý là một hoạt động phổ biến trong xã hội, có ảnh hưởng đặc biệt đến sự phát triển của bất cứ tổ chức xã hội nào, từ các tổ chức tế bào là gia đình cho đến các tổ chức sản xuất hàng hóa, các tổ chức xã hội, tổ chức quốc gia, liên quốc gia, các tổ chức toàn cầu. Khoa học quản lý ngày càng phát triển do ý nghĩa, vai trò đặc biệt đó của hoạt động quản lý đối với sự phát triển và tiến bộ.“Theo những định nghĩa kinh điển nhất, hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [9, tr9]. Hoạt động quản lý gắn với tổ chức, trong đó các thành viên của tổ chức gắn kết với nhau, tương tác với nhau.Tổ chức được hình thành và vận hành như một hệ thống bao gồm các thành tố có quan hệ hữu cơ, liên thuộc với nhau thì quản lý chính là chất kết dính, chất xúc tác của hệ thống. Bao giờ cũng có thể nhận ra trong một tổ chức những cá nhân hay nhóm người điều hành, kiểm soát, đánh giá, chèo lái, ra các quyết định … đối với những cá nhân, nhóm người khác trong tổ chức.
Hoạt động quản lý phân chia chức năng của các thành viên trong tổ chức.Cá nhân hoặc nhóm thành viên nào thực hiện các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra được gọi là chủ thể quản lý. Cá nhân hay nhóm thành viên đối tượng nào nhận sự tác động của chủ thể quản lý, hoạt động dưới sự chỉ đạo, điều chỉnh của các chức năng trên được gọi là đối tượng quản lý. Đối tượng quản lý cũng có những tác động trở lại đối với chủ thể quản lý dẫn đến những điều chỉnh trong quản lý. Mục tiêu cuối cùng của quản lý là hướng tới tự quản lý, khi đó mỗi thành viên của tổ chức nhận thức rõ ràng về sứ mệnh của tổ chức, nhiệm vụ của từng vị trí công việc, có đủ năng lực hoạt động chuyên môn hóa và năng lực liên kết hiệu quả với nhau, làm cho toàn bộ tổ chức hoạt động hiệu quả, đạt được các mục tiêu đã định trước.
21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoạt động quản lý vừa nhằm duy trì sự ổn định, duy trì hiệu quả đã đạt được vừa nhằm tạo ra sự biến chuyển tích cực, sự đổi mới và phát triển. Vai trò của người quản lý là tạo ra và duy trì sự nề nếp, quy củ, trật tự để tại thời điểm nhất định, tổ chức đạt được trạng thái tồn tại hiệu quả nhất, thực hiện tốt nhất công năng của nó. Nhưng trước những biến động của ngoại cảnh và cả những nhân tố nội sinh, thì quản lý phải đánh giá, tiên lượng, dự báo, trù tính cho những thay đổi nhất định sẽ xảy ra và đề xuất những thay đổi, điều chỉnh nhất định phải thực hiện để đảm bảo đưa tổ chức đến một trạng thái vận hành mới với những nhân tố mới nhưng vẫn đạt được mục tiêu mong muốn.Đòi hỏi cao hơn nữa là tạo ra những thay đổi, kiến tạo những thành công mới cho tổ chức, nâng tổ chức phát triển lên tầm cao mới với những hoạch định mang tính chiến lược. Tổ chức càng đa dạng, hệ thống càng phức tạp, mục tiêu càng cao thì đặt ra những yêu cầu càng cao đối với quản lý.Vai trò của người quản lý trong một tổ chức là hết sức quan trọng và không thể thiếu.
Thành công của một tổ chức là kết quả chung của các thành viên nhưng không thể không nhận thấy vai trò quan trọng có khi là vai trò quyết định của các thành viên giữ vị trí quản lý, điều hành, lãnh đạo. Quản lý bao giờ cũng gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.Ngay trong sự thất bại cũng vậy, luôn cần có một người gánh trách nhiệm cho thất bại, và đó thường là người đứng đầu quản lý điều hành tổ chức. Vậy nên những cơ hội và thách thức đối với người quản lý tạo ra sức hấp dẫn đối với công việc quản lý và càng ngày quản lý càng trở thành một nghề đòi hỏi những năng lực đặc thù. Quản lý không chỉ là một nghề, một khoa học mà còn là một nghệ thuật với yêu cầu cao về sức sáng tạo.
Quản lý giáo dục “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức, kế hoạch, tổ chức và hợp quy luật của các cơ quan quản lý giáo dục tới các khâu của hệ thống giáo dục nhằm làm cho các cơ sở giáo dục vận hành được bình thường và đạt tới các mục tiêu đã đề ra” [9, tr64] 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý giáo dục vừa có những đặc điểm chung của quản lý vừa có những đặc điểm riêng của lĩnh vực giáo dục. Quản lý giáo dục gắn liền với việc điều hành quá trình giáo dục đào tạo con người, đặc biệt là lao động sư phạm của các nhà giáo. Phương tiện lao động sư phạm của người giáo viên chủ yếu là phương tiện tinh thần bằng lời nói, tấm gương, thái độ … Thời gian lao động của người giáo viên cũng vậy, nó không được tách bạch rạch ròi như các ngành nghề khác. Ngay khi họ ở nhà thì tâm trí và thời gian của họ có thể vẫn dành cho công việc.
Vì vậy, quản lý giáo dục cần tạo điều kiện thuận lợi về môi trường sư phạm và đáp ứng những nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần cho giáo viênđể họ có động lực lao động tốt nhất. Người học vừa là đối tượng của lao động sư phạm của nhà giáo vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục. Kết quả giáo dục do đó không chỉ phụ thuộc vào nhà giáo mà còn phụ thuộc vào bản thân người học với những đặc điểm riêng về thể chất, tâm sinh lý. Vì vậy quản lý giáo dục phải quan tâm, nghiên cứu, phân tích tất cả những đặc điểm tâm sinh lý của người học, bởi đó là một nhân tố đầu vào quan trọng của quá trình giáo dục trong nhà trường nhằm tìm ra những giải pháp, biện pháp quản lý thích hợp để đảm bảo kết quả giáo dục phù hợp với mục tiêu.
Sản phẩm của giáo dục là nhân cách của người học.Nhân cách người học trước và sau quá trình giáo dục phải đạt được những thay đổi tích cực nhất định có thể kiểm định được.Quản lý giáo dục phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn những sai sót trong việc tạo ra sản phẩm, cũng như không được phép tạo ra “phế phẩm”. Bởi vì sản phẩm của các lĩnh vực sản xuất có thể bị loại bỏ, không đưa vào sử dụng còn sản phẩm giáo dục là con người, nếu nhân cách lệch lạc, sai lầm thì “sản phẩm” đó vẫn đi vào cuộc sống. Trách nhiệm phòng ngừa, trách nhiệm đảm bảo chất lượng “sản phẩm” của quản lý giáo dục cao hơn so với bất cứ lĩnh vực hoạt động nào khác trong xã hội. 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý giáo dục được gắn liền với quyền lực nhà nước trong việc điều hành, điều chỉnh các hoạt động giáo dục, thông qua việc xây dựng, ban hành và chấp hành các văn bản như luật, điều lệ và các quy định, quy chế chuyên môn sư phạm.
Do đó quản lý giáo dục có tính kết hợp chặt chẽ giữa quản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên môn sư phạm. Quản lý giáo dục gắn liền với đời sống xã hội, từng gia đình, từng cộng đồng địa phương. Do đó các giải pháp quản lý phải mang tính đồng bộ giữa nhà trường – gia đình – xã hội mới có thể đạt hiệu quả cao. Quản lý giáo dục phải là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc bởi vì chức năng của nó là duy trì, lưu giữ, truyền đạt những điều tốt đẹp, nhân văn của con người từ thế hệ này sang thế hệ khác.Mặt khác, những lợi ích về kinh tế xã hội mà giáo dục đào tạo mang lại cho mỗi quốc gia và toàn xã hội là siêu lợi ích.Các quốc gia đều coi trọng giáo dục với vai trò là quốc sách, là chìa khóa để phát triển đất nước.Bên cạnh đó, Nhà trường cũng có những chức năng xã hội khác và nó được đặt giữa đời sống xã hội với rất nhiều nhu cầu, mong muốn, kì vọng của xã hội đặt ra cho nhà trường.
Trường phổ thông chẳng hạn, ngoài chức năng căn bản là giáo dục thế hệ trẻ thì còn có nhiệm vụ quản lý những công dân chưa đủ tuổi ở trong một môi trường an toàn để cho các bậc phụ huynh lao động ngoài xã hội yên tâm làm việc. Nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất, kinh tế xã hội cũng đặt nhà trường trước những bài toán kinh tế và mục đích thực dụng.Việc liên kết đào tạo, chuyển giao các công nghệ giáo dục, tổ chức các cơ sở giáo dục đào tạo tư nhân … liên quan đến vấn đề quyền lợi, lợi ích kinh tế.Điều đó cũng đòi hỏi quản lý giáo dục phải tìm ra những biện pháp quản lý thích hợp. Trong giáo dục có 2 loại hình quản lý: quản lý hệ thống và quản lý nhà trường, trong đó quản lý nhà trường là hạt nhân cơ bản.