Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề - Trong suốt các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng luôn được chú trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “ Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Ngay sau Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công Người đã quan tâm xây dựng một nền giáo dục toàn dân, chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên, từng bước đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng để phục vụ sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp cách mạng của Đảng.
- Trong Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011- 2020 cũng đã nhấn mạnh: “.tăng cường các khoá bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên theo các chương trình tiên tiến, các chương trình hợp tác với nước ngoài để đáp ứng được nhiệm vụ nhà giáo trong tình hình mới. - Trong những năm gần đây, đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về các lĩnh vực văn hóa - giáo dục, bồi dưỡng giáo viên. Các tạp chí, tập san, chuyên san, báo Giáo dục thời đại xuất hiện ngày càng nhiều và càng phong phú về nội dung, vấn đề bồi dưỡng giáo viên, phát triển đội ngũ giáo viên. Nghiên cứu về bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và quản lý hoạt động bồi dưỡng NLCM còn được thực hiện dưới góc độ quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô và vi mô.
Nhiều hội thảo khoa học về chủ đề đội ngũ giáo viên dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học đã được thực hiện. Có thể nêu ra một số tác giả sau đây mà công trình nghiên cứu của họ đã góp phần mạnh mẽ nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như: Tài liệu của tác giả Nguyễn Minh Đường (1996) “ Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, chương 6 trình khoa học công nghệ cấp nhà nước”, tác giả Trần Bá Hoành (2002) “ Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng từ xa”, tác giả Nguyễn Tấn Phát (2000) “ Tự học, tự bồi dưỡng suốt đời trở thành một quy luật”, tạp chí Tự học tháng 8/2000. - Trần Mạnh Tuất: “Biện pháp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trường trung cấp thủy sản I”. Trong đó tác giả đã đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của CBQL, giáo viên về vai trò công tác bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên.
- Tác giả Mai Xuân Thành có nghiên cứu đề tài: “Biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường tiểu học huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa”. Đề tài đã nghiên cứu thực trạng về công tác bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh, từ đó chỉ ra nguyên nhân hạn chế của thực trạng và đưa ra một số biện pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh trong trường tiểu học. - Tác giả Bùi Quốc Huy (2010) “Một số giải pháp quản lý công tác bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho giáo viên trung học cơ sở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa”. Tác giả chỉ ra nguyên nhân những yếu kém về năng lực quản lý của Hiệu trưởng các trường THCS huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Phương (2011) với đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng đổi mới PPDH ở các trường THCS huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương” tập trung vào bồi dưỡng phương pháp dạy học. Trong những năm gần đây, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo, tổ chức nhiều đợt tập huấn bồi dưỡng nâng cao trách nhiệm, đạo đức nhà giáo và năng lực nghề nghiệp cho giáo viên. Đặc biệt là nội dung đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, về áp dụng các hình thức tổ chức giáo dục và dạy học tiên tiến, hiện đại như: Phương pháp dạy học tích cực, phương pháp bàn tay nặn bột, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp tổ 7 chức các hoạt động giáo dục ở mô hình trường học mới VNEN.Các phương pháp giáo dục kỹ năng sống, giáo dục di sản, giáo dục văn hóa truyền thống, giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và thảm học thiên tai, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông váo dạy và học.Chương trình bồi dưỡng và nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên và chuẩn cán bộ quản lý các cấp từ năm 2010, giúp mỗi nhà giáo ở cương vị công tác của mình thường xuyên tự học tập và rèn luyện để nâng cao năng lực chuyên môn của mình, các năng lực đó bao gồm: - Năng lực dạy học chuyên môn sâu và năng lực dạy học tích hợp. - Năng lực giáo dục, tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh, năng lực quản lý Hội đồng tự quản của học sinh.
- Năng lực phát triển chương trình nhà trường. - Năng lực đánh giá kết quả giáo dục. - Năng lực nghiên cứu khoa học. - Năng lực phát triển nghề nghiệp.
- Năng lực hoạt động xã hội và tổ chức hoạt động xã hội. - Các kỹ năng mềm. - Năng lực ngoại ngữ và tin học. Theo Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận, phương thức giáo dục mới tới đây sẽ thay đổi căn bản, thầy giáo không chỉ là người truyền thụ kiến thức, mà nhiệm vụ chính sẽ là tổ chức, hướng dẫn học sinh tự học, tự khai thác kiến thức, vận dụng kiến thức để hình thành năng lực và phẩm chất của mình.
Giáo viên là “Cỗ máy cái” [22] vì thế phải đổi mới giáo viên mới có thể đổi mới phương pháp dạy học. Sau nhiều năm thực hiện đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng cũng còn nhiều hạn chế: Quản lý giáo dục còn 8 kém hiệu quả, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Nguyên nhân của những yếu kém, bất cập có thể do nhiều yếu tố, song trong đó yếu tố chủ quan thể hiện trình độ quản lý chưa theo kịp với thực tiễn và yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội; việc đổi mới về tư duy và phương thức quản lý còn chậm; năng lực của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục chưa được nâng cao; đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng và bất cập về trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm. Vì vậy, trong các giải pháp thực hiện chiến lược phát triển giáo dục đến 2020, Đảng, Nhà nước và ngành GD&ĐT đã xác định giải pháp xây dựng đội ngũ nhà giáo là giải pháp trọng tâm; trong đó chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm của giáo viên.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý nhà trường Trong hệ thống giáo dục, các hoạt động giáo dục đều được thực hiện trong các nhà trường, thông qua hệ thống nhà trường (phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học). Nhà trường là “tế bào” của hệ thống giáo dục từ trung ương đến cơ sở. Theo tác giả Trần Kiểm - Bùi Minh Hiền cho rằng: “Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, v.) hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.) nhằm đạt mục tiêu giáo dục.” [25, 39] Như vậy, Quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong phạm vi một 9 cơ sở giáo dục là nhà trường.
Trong quản lý nhà trường, công tác bồi dưỡng phát triển đội ngũ giáo viên là một nội dung cơ bản và nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của hiệu trưởng nhà trường. Giáo viên và đội ngũ giáo viên 1. Giáo viên Điều 70 Luật giáo dục năm 2005, qui định: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác… Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên” [29]. Đội ngũ giáo viên THCS Đội ngũ, theo từ điển Tiếng Việt [34], “là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp tập hợp thành một lực lượng”.
Khái niệm “đội ngũ” tuy có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng đều có một điểm chung, đó là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng, để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp, nhưng đều cùng một mục đích nhất định. Đội ngũ giáo viên THCS, theo Điều 70, Luật GD sửa đổi - năm 2005 [29]: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, GD trong nhà trường, cơ sở GD khác. Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở GD mầm non, GD phổ thông, GD nghề nghiệp gọi là GV; nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở GD đại học gọi là giảng viên” Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sử dụng định nghĩa “Đội ngũ GV” của tác giả Nguyễn Minh Đạo, “Đội ngũ GV là những chuyên gia trong lĩnh vực GD, họ nắm tri thức và hiểu biết dạy học và GD như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho sự nghiệp GD. Nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ GV và đội ngũ CBQL.” Theo đó, có thể xác định đội ngũ giáo viên THCS là những người làm công tác giảng dạy - giáo dục trong nhà trường THCS có cùng một nhiệm vụ 10 giáo dục, rèn luyện và giúp học sinh hình thành và phát triển toàn diện nhân cách để tiếp tục học bậc học cao hơn hoặc chọn đúng hướng đi phù hợp với năng lực sở trường và hoàn cảnh của bản thân.
Năng lực chuyên môn của giáo viên 1. Năng lực chuyên môn Năng lực là khả năng của một người hoàn thành được những nhiệm vụ phức tạp, việc hoàn thành này đòi hỏi phải thi hành một số lượng lớn thao tác đối với những nhiệm vụ mà người ta thường gặp trong khi thực hành một nghề [25, 278]. Đó là những đặc điểm tâm lý của nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất định. Năng lực có quan hệ với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.