Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí bồi dƣỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho giáo viên ở trƣờng trung học cơ sở. Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dƣỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho giáo viên ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng. Chương 3: Biện pháp quản lý bồi dƣỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học cho giáo viên ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Ở nhiều nƣớc trên thế giới, GV là nghề đƣợc coi trọng và có vị thế cao trong xã hội. Công tác đào tạo GV ở các nhà trƣờng rất đƣợc đƣợc quan tâm, điều này đƣợc thể hiện ở chƣơng trình đào tạo toàn diện, với các chƣơng trình hoạt động thực tế. Các cơ sở giáo dục không chỉ dừng lại ở việc đào tạo ban đầu cho sinh viên, cho đến khi tốt nghiệp, đáp ứng chuẩn nghề nghiệp GV mà còn chú trọng đến việc bồi dƣỡng thƣờng xuyên để nâng cao chất lƣợng đội ngũ GV, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền giáo dục của mỗi nƣớc.
Nghiên cứu về hoạt động bồi dƣỡng GV trên thế giới đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến nhƣ: Michel Dvelay, ngƣời Pháp, với công trình “Peut; On former les Enisgnants” [54], N. Bondurep với công trình Hệ phương pháp hoạt động giáo dục trong trường phổ thông [47], Jacques Nimier với tác phẩm GV rèn luyện tâm lý [67]. Các tác giả đã khẳng định việc giáo dục tâm lý không phải chỉ diễn ra ở các trƣờng sƣ phạm là đã đủ mà cuộc sống nghề nghiệp sau này ngƣời GV phải luôn luôn cần có thêm kiến thức về lĩnh vực này. Bàn về bồi dƣỡng năng lực dạy học cho GV, một số tác giả cho rằng GV là những ngƣời biết nắm bắt cơ hội để tự học hỏi nâng cao năng lực của bản thân, có thể kể đến các công trình nghiên cứu nhƣ: công trình Tự đào tạo để dạy học của Patrice Pelpel [58], Một số vấn đề về đào tạo GV của Michel Develay [49], Đào tạo GV về nghiệp vụ của Marguerite Altet [53], James H.Mc Millan Kiểm tra đánh giá lớp học - Nguyên tắc và thực hành để giảng dạy hiệu quả, Michel Develay trong công trình Một số vấn đề về đào tạo GV đã lý giải vì sao công tác đào tạo, bồi dƣỡng GV cần đƣợc đổi mới, nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy của GV.
Thông qua đào tạo ban đầu và hoạt động bồi dƣỡng thƣờng xuyên, ngƣời GV phải có năng lực tự đào tạo, tự bồi dƣỡng. Các nghiên cứu cũng khẳng định, cần tạo điều kiện tốt nhất cho GV không ngừng đào tạo, bồi dƣỡng và phát triển, nhấn mạnh sự cần thiết phải cung cấp cơ hội cho việc bồi dƣỡng và phát triển chuyên môn GV cần đƣợc thực hiện liên tục. trong nghiên cứu Sự hình thành năng lực nghề nghiệp của GV trong bồi dưỡng nâng cao trình độ [69] đã đề cập đến những vấn đề trọng tâm, nhƣ: năng lực đƣợc đào tạo, năng lực nghề nghiệp, năng lực xã hội, năng lực nền tảng của nhân cách, các năng lực nghề nghiệp của GV dựa trên kinh nghiệm của Mỹ, Nga và Châu Âu. Các công trình nghiên cứu đã đƣa ra cơ sở khoa học góp phần đổi mới hoạt động bồi dƣỡng và quản lý hoạt động bồi dƣỡng GV.
Hiện nay khi các tiến bộ về khoa học công nghệ đang đƣợc áp dụng vào tất cả lĩnh vực đời sống xã hội, thì ngƣời GV không những cần đƣợc bồi dƣỡng về chuyên môn, kỹ năng dạy học mà còn cần bồi dƣỡng kiến thức và kỹ năng về CNTT. Năm 2008, tổ chức UNESCO đã nghiên cứu về khung năng lực CNTT cho GV, xác lập các tiêu chí, tiêu chuẩn về sử dụng CNTT cho mỗi GV trong dạy học. Khung năng lực này giúp cho các tổ chức làm chính sách GD, các nhà phát triển công nghệ chuyên nghiệp thực hiện việc đánh giá năng lực CNTT của GV, góp phần đổi mới phƣơng thức đào tạo GV hƣớng phát triển năng lực CNTT nhằm nâng cao chất lƣợng GD của các nhà trƣờng. Khung năng lực này đã đƣợc phát triển qua các năm 2011 và năm 2018, nhằm phù hợp với xu thế đổi mới GD trên toàn cầu, trong đó cốt lõi là đáp ứng phƣơng thức dạy học dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ và số hóa (UNESCO) [7, 6].
Paula và nhóm cộng sự [59], đã nghiên cứu về năng lực sử dụng CNTT của ngƣời dạy trong dạy học trực tuyến và chỉ ra nguyên tắc bảy điểm của việc giảng dạy hiệu quả với môi trƣờng dạy học trực tuyến, gồm: 1) Khuyến khích tiếp xúc giữa SV và GV; 2) Phát triển tƣơng hỗ và hợp tác giữa các sinh viên; 3) Khuyến khích học tập tích cực; 4) Cung cấp phản hồi nhanh; 5) Nhấn mạnh thời gian vào công việc; 6) Giao tiếp kỳ vọng cao; 7) Tôn trọng tài năng đa dạng và cách học. Các nghiên cứu đã khẳng định, có hai rào cản lớn nhất đối với việc ứng dụng CNTT trong dạy học đó là: năng lực - thái độ của GV (yếu tố chủ quan) và thiếu trang thiết bị (yếu tố khách quan) (Guha, 2003; Pelgrum, 2001) [51, tr. Vấn đề thiết bị có thể giải quyết đƣợc từ nhiều nguồn hỗ trợ khác nhau, nhƣng trƣớc khi đầu tƣ thiết bị thì ngƣời GV phải đƣợc đào tạo về ứng dụng CNTT trong dạy học [50]. Ngƣời ta nhận ra rằng chiếc máy vi tính để nơi góc lớp sẽ mãi nằm im nếu GV không biết cách sử dụng chúng trong dạy học nhƣ thế nào (Guillermo E.
Pedroni, 1996) [52]… “Tất cả thiết bị công nghệ đang có trong trƣờng học ngày nay sẽ chẳng có giá trị gì nếu GV không biết sử dụng chúng một cách có hiệu quả. Chính các GV mới 7 đem lại sự kỳ diệu, chứ không phải là chiếc máy vi tính” (Craig Barrett, Nguyên Tổng Giám đốc tập đoàn Intel) [53]. Tại Hội nghị thƣợng đỉnh về giáo dục đƣợc tổ chức tại New York năm 2011 và Amsterdam năm 2013, ngoài việc chia sẻ kết quả nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lƣợng nhà giáo cùng chất lƣợng dạy học, các nhà khoa học, nhà quản lý và hoạch định chính sách đã đề cập nhiều đến vấn đề nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ GV thông qua hoạt động bồi dƣỡng; các chính sách quản lý bồi dƣỡng GV; các hình thức bồi dƣỡng GV, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới các chính sách khuyến khích tự học, tự bồi dƣỡng, học tập suốt đời nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo. Chính quan niệm “giáo dục liên tục hay giáo dục suốt đời” đã làm thay đổi nhiệm vụ của hoạt động bồi dƣỡng GV trên thế giới hiện nay (Ponamarev O.
Tác giả cũng nêu rõ những nhiệm vụ mang tính phƣơng pháp luận đang đặt ra hiện nay đối với giáo dục Nga là: 1) Lựa chọn mô hình đào tạo năng lực GV; 2) Lựa chọn mô hình bồi dƣỡng năng lực nghề nghiệp cho GV. Đó là những nhiệm vụ rất khó trong điều kiện có rất nhiều mô hình năng lực đƣợc đào tạo và mô hình năng lực nghề nghiệp của ngƣời GV. Nhóm các tác giả Olatundun, S.D (2013) trong bài viết: “Việc sử dụng và quản lý CNTT tại các trường học: các chiến lược đối với lãnh đạo trường học” đã đƣa ra các gợi ý cho các CBQL trong việc thiết kế các giải pháp quản lý ứng dụng CNTT trong trƣờng học, đó là: Việc xây dựng chính sách về CNTT của nhà trƣờng cần phù hợp, có hệ thống và tiến bộ. Các CBQL cần hiểu biết về CNTT để luôn đi đầu và trở thành một ngƣời có tính cạnh tranh; cần tham gia vào các hoạt động trong tiến trình ứng dụng CNTT; tăng cƣờng quan hệ đối tác và hợp tác để có thể tăng cƣờng phát triển công nghệ và thúc đẩy việc ra quyết định của lãnh đạo trƣờng.
CBQL cần có một tầm nhìn để đƣa ra quyết định đúng đắn trong việc tích hợp và quản lý CNTT trong các trƣờng học; lập kế hoạch cho chƣơng trình đào tạo GV để thúc đẩy ý thức về tính chuyên nghiệp trong giảng dạy, thúc đẩy họ học những kiến thức mới và tiếp thu đƣợc các kỹ năng và năng lực mới. CBQL nhà trƣờng cần đánh giá và trao đổi thông tin các trƣờng khác để so sánh và trao đổi kinh nghiệm, có dự đoán và chuẩn bị cho sự thay đổi liên tục trong tƣơng lai về CNTT. Các GV nên đƣợc khuyến khích chia sẻ các phƣơng pháp sƣ phạm và kỹ thuật CNTT, làm việc theo nhóm để lồng ghép CNTT vào giảng dạy và học tập [57]. 8 Nâng cao năng lực của GV phải là bƣớc đầu tiên trong quá trình đƣa CNTT vào nhà trƣờng [68].
Yếu tố GV ở đây gồm cả CBQL và GV bộ môn (Snoeyink. Từ vấn đề trên, có thể khẳng định: các nƣớc phát triển đã ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở hầu hết các cơ sở giáo dục theo nhiều hình thức tổ chức và quản lý khác nhau; quan tâm đến bồi dƣỡng năng lực dạy học. Các tác giả đƣa ra những kinh nghiệm quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại các cơ sở giáo dục, các nghiên cứu chỉ ra thuận lợi, xu hƣớng và những khó khăn thách thức tại mỗi nhà trƣờng và đƣa ra các gợi ý về chiến lƣợc cho các nhà quản lý và định hƣớng những nghiên cứu cho tƣơng lai. Ở Việt Nam Năng lực của ngƣời giáo viên phát triển từ năng lực đƣợc đào tạo thành năng lực nghề nghiệp chủ yếu thông qua quá trình bồi dƣỡng.
Đến nay có khá nhiều công trình tập trung nghiên cứu vấn đề này. Năm 1961, với sự ra đời của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, trong đó có Trung tâm Nghiên cứu Đào tạo và Bồi dƣỡng GV nên giai đoạn này đã có nhiều công trình nghiên cứu mang tính độc lập và chuyên sâu. Các công trình điển hình nhƣ: Đặng Vũ Hoạt Kế hoạch rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên (1989); đề tài cấp nhà nƣớc Người thầy giáo theo yêu cầu của sự phát triển giáo dục với sự tham gia của nhiều nhà khoa học của Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội; Lê Trần Lâm với công trình đào tạo và bồi dƣỡng GV (1992), Nguyễn Minh Đƣờng (chủ biên) Bồi dƣỡng và đào tạo lại nguồn nhân lực (1996) - (Kết quả nghiên cứu Đề tài mã số KX 07-14-1996). Đây là nhóm đề tài nghiên cứu về đào tạo, bồi dƣỡng GV nói chung dƣới góc độ lý luận.