Chương 1: Những vấn dé chung về bộ máy tra cứu thông tin tự động, hóa và Trung tâm Thông tỉn - Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Chương 2: Thực trạng bộ máy tra cứu thông tin tự động hóa tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả bộ máy tra cứu thông tin tự động hóa tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Chuong 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE BO MAY TRA CUU THONG TIN TỰ G HÓA VÀ TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRUONG DAI HQC SU PHAM HA NOT 1. Những vấn đề chung về bộ máy tra cứu thông tin tự động hóa 1. Khái niệm bộ máy tra cứu thông tìn tự động hóa Để hiểu rõ khái niệm BMTCTT tự động hóa cần làm sáng tỏ các khái niệm liên quan sau: ~ Tra cứu thông tin Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới thuật ngữ tra cứu tin/ tra cứu thông tin, tìm tin vẫn chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, việc sử dụng.
thuật ngữ có khác nhau nhưng cùng chỉ một mục đích là quá trình tim tin/ tra cứu thông tin/ tài liệu nhằm đáp ứng NCT cua NDT. Khái niệm tra cứu thông tin được nhiều tác giả đề cập đến. Sau đây là một số định nghĩa: * Tra cứu tin/ tra cứu thông tin là tập hợp các công đoạn kỹ thuật và lôgic với mục đích cuối cùng là tìm được các tài liệu (bản văn), thông tin về chúng, hoặc những sự kiện, dữ kiện riêng biệt về vần đề mà NDT cần thiết. * Tra cứu tin/ tra cứu thông tin là tập hợp các công đoạn có mục đích, nhằm cung cấp cho người dùng tin những chỉ dẫn hoặc trả lời câu hỏi đột xuất hay thường xuyên của họ [8, tr.17] * Tra cứu tin: là quá trình tìm kiếm và đáp ứng yêu cầu thông tin cho người sử dụng [26.24] * Tìm tin là một quá trình bao gồm những hoạt động nhằm mục đích cung cấp cho NDT những thông tin phù hợp với yêu cầu của họ theo các dấu hiệu đã có [24, tr.140] * Tìm tin là quá trình so sánh những yếu tố đặc trưng của yêu cầu với những yếu tố đặc trưng của tài liệu nằm trong hệ thống, nhằm xác định sự tương hợp về nội dung, ý nghĩa của các dữ liệu được so sánh và lựa chọn các tài liệu/ thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu [8, tr.
1] * Tìm tin là thuật ngữ chung để chỉ tìm tài liệu hay nguồn của tài liệu, cũng như những thông tin về dữ liệu và sự kiện mà tài liệu đó cung cấp.263] Như vậy, tra cứu thông tin là một thuật ngữ chung dùng để phản ánh quá trình tra cứu dữ liệu hoặc các nguồn tin, trong đó có cả các số liệu, dữ kiện [§.1§] ~ Tra cứu thông tin tự động hóa Tra cứu thông tin tự động hóa còn được gọi là tìm tin tự động hóa. Tím tin tự động hóa là quá trình sử dụng máy tính điện tử và /hoặc mạng máy tính để tìm các thông tin máy tính đọc được, được lưu trữ trên bộ nhớ của máy. tính hoặc các thiết bị lưu trữ thông tin điện tử khác và thường được tô chức dưới hình thức cơ sở dữ liệu [8, tr.24] - Bộ máy tra cứu Bộ máy tra cứu là tập hợp các công cụ và phương tiện cho phép tra tìm và cung cấp các tài liệu/ thông tin (dữ kiện, số liệu) phù hợp với diện đề tài bao quát của cơ quan thông tin — thư viện, đáp ứng yêu cầu tin của người dùng tin [8, tr.92] ~ Bộ máy tra cứu thông tin tự động hóa Từ những vấn đề đã trình bày ở trên, có thể hiểu BMTCTT tự động hóa là tập hợp các công cụ và phương tiện hiện đại giúp tra tìm và cung cấp tài liệu/ thông tin đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin Đối chiếu với tình hình thực tế của Trung tâm TT - TV Trường ĐHSPHN, trong phạm vi luận văn, tác giả nhìn nhận BMTCTT tự động hóa hiện nay tại đơn vị được cấu thành từ hai bộ phận sau: * Cơ sở dữ liệu * Hạ tầng công nghệ thông tin: - Phần cứng - Phần mềm 1. Tiêu chí đánh giá chất lượng bộ máy tra cứu thông tin tự động hóa Mục đích của việc tô chức BMTCTT tự động hóa là nhằm giúp cho việc tra cứu thông tin được nhanh chóng, thuận tiện, giúp cho cả CBTV cũng.
như NDT rút ngắn được thời gian, công sức trong việc tìm kiếm thông tin. Nhưng quan trọng hơn, các thông tin tìm được phải đảm bảo được độ chính xác, đầy đủ. Đặc biệt, bộ máy này sẽ còn đạt được chất lượng cao hơn nếu tạo. ra được hiệu quả kinh tế.
Bởi vậy, chất lượng của BMTCTT tự động hóa có thể được đánh giá bằng các tiêu chí sau: Tính đầy đủ BMTCTT tự động hóa cần phản ánh đầy đủ vốn tài liệu có trong thư viện hoặc cơ quan thông tin, không chỉ ở dạng sách mà cả những tài liệu nghe nhìn, bài báo, tạp chí, luận án, luận văn, đề tài,. hay toàn bộ những tài liệu có trong thư viện hoặc cơ quan thông tin. Những thông tin về các dạng tài liệu đó phải được phản ánh một cách đầy đủ. Hệ số đầy đủ được đánh giá thông qua tìm tin như sau: Kđdtt = NextƯNex.100%, trong đó Kđđtt - hệ số đầy đủ thông qua tìm tin Next - số lượng các biểu ghi tìm ra đáp ứng yêu cầu tin Nex - tông số biểu ghi đáp ứng yêu cầu tin trong CSDL [21] Như vậy, tính đầy đủ được xác định là tỉ lệ giữa số tài liệu thích hợp.
tìm được với một yêu cầu tin và tông số tài liệu thích hợp có trong hệ thống. Tính chính xác BMTCTT tự động hóa phản ánh chính xác nội dung thông tin được đề cập trong tài liệu liên quan đến đối tượng tìm kiếm có trong thư viện. Hệ số chính xác được đánh giá thông qua tim tin: Kextt = NextUNr.100%, trong đó 'Kextt - hệ số chính xác thông qua tìm tin Next - số lượng các biểu ghi tìm ra đáp ứng yêu cầu tin Nr - tổng số các biểu ghi tìm ra [21] Nhu vay, tinh chính xác của BMTCTT tự động hóa được xác định là ti lệ giữa số tài liệu thích hợp với một yêu cầu tin và tổng số tài liệu tìm được Tính cập nhật BMTCTT tự động hóa phải được cập nhật thường xuyên. Cần phải loại ra khỏi bộ máy những thông tin, tài liệu lỗi thời, ít được sử dụng và bổ sung vào đó những thông tin mới phủ hợp với đối tượng NDT của thư viện.
Tính thuận tiện/dễ sử dụng BMTCTT tự động hóa phải được tổ chức một cách khoa học, rõ rang, đễ hiểu, dễ sử dụng, hiệu quả tìm kiếm cao. Tính hiện đại BMTCTT tự động hóa cần phải đảm bảo tính hiện đại về trang thiết bị, cấu trúc thông tin. Đồng thời cũng phải có sự hướng dẫn sử dụng một cách khoa học, rõ ràng, giúp NDT nâng cao được năng lực và hiệu quả của công. Tiêu chí này khá trừu tượng, khó đo được bằng một đại lượng cụ thể, vì vậy chỉ có thê nhận dạng qua phân tích, tổng hợp và khái quát hóa thực tiễn.
Tĩnh kinh tế BMTCTT tự động hóa cần mang lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị, trực tiếp tạo ra lợi nhuận cho đơn vị. Các yếu tố ảnh hưởng đến bộ máy tra cứu thông tin tự động hóa Để BMTCTT tự động hóa hoạt động hiệu quả, chúng ta cần xem xét tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến bộ máy này bao gồm: các yếu tố chủ quan (nguồn nhân lực, nguồn lực thông tin) và các yếu tố khách quan (nhu cầu tra cứu tin, công nghệ, kinh phí) * Yếu tố chủ quan Nguôn nhân lực Đã từ lâu, CBTV thường được biết tới với tư cách là người làm việc trong một tòa nhà thư viện, thực hiện các công việc như bô sung, tô chức, bảo. quản tài liệu in ấn cũng như hỗ trợ người đọc trong việc định vị thông tin ho cần. Trong những thập kỉ cuối của thế kỷ XX, hình ảnh người CBTV đã thay đổi rất nhiều dưới tác động của những cải tiến mới trong lĩnh vực thông tin và truyền thông.
Ở nhiều thư viện, những bộ sưu tập tài liệu giấy đã nhường chỗ cho các bộ sưu tập được kết nối mạng, lưu trữ trên máy tính và NDT có thể tra tìm được các CSDL thư mục, các mục lục truy cập công cộng trực tuyến (viết tắt là OPAC), giúp họ tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức. Có thể thấy rằng, trong bối cảnh CNTT và internet hiện nay, vai trò hoa tiêu trên biển thông tin (vai trò trung gian giữa thông tin và NDT) của CBTV. càng trở nên vô cùng cần thiết, giúp NDT khai thác được nguồn thông tin, tài liệu tốt nhất có trong thư viện. CBTV là chiếc cầu nói giữa NDT với thư viện và tài liệu, hướng dẫn cho các đối tượng NDT sử dụng thư viện có hiệu quả.
Thêm vào đó, họ cũng có vai trò mới là người trung gian tìm kiếm thông tin; là người hỗ trợ và đào tạo NDT; là người nghiên cứu; là người thiết kế giao diện; là người quản lý trí thức; là người sàng lọc các nguồn thông tin. nhằm giúp NDT nhận diện và tiếp cận các nguồn thông tin trong không gian thông tin rộng lớn. là nguồn nhân lực không thẻ thiếu trong bất kỳ thư viện nào, cho dù đó là thư viện truyền thống hay thư viện hiện đại, thư viện điện tử, thư viện số. Trong kỉ nguyên internet và nội dung số, CBTV sẽ vẫn tiếp tục là người lựa chọn các nguồn thông tin thích hợp, xây dựng BMTCTT truyền thống và tự động hóa, cung cấp truy cập tới các nguồn thông tin đó, hướng, dẫn và hỗ trợ NDT trong việc hiểu các nguồn thông tin, bảo quản cả phương.
tiện và thông tin chứa đựng trong đó. Nguôn lực thông tin Khái niệm nguồn lực thông tin hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa được hiểu và định nghĩa một cách thống nhất Một số tác giả cho rằng nguồn lực thông tin tương đương như vốn tài liệu trong các cơ quan thông tin, thư viện. Một số khác lại đưa ra quan niệm. NLTT không chỉ bao hàm các nguồn lực về tài liệu mà còn gồm các thành phần khác nhau như nguồn nhân lực, nguồn kinh phí và cơ sở vật chất,.
Theo tác giả luận văn thì nguồn lực thông tin bao gồm toàn bộ vốn tài liệu mà thư viện sở hữu hoặc thư viện có thể tiếp cận đáp ứng NCT của NDT.