Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Lý do chọn đề tài: Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại phát triển và đạt được nhiều thành tựu đáng kể của công nghệ thông tin. Các loại thông tin, số liệu, âm thanh, hình ảnh. đều được số hóa, từ đó được lưu trữ, phân loại, xử lý và chia sẻ thông tin dưới sự hỗ trợ của máy tính. Tất cả các ngành, các lĩnh vực đều xem công nghệ thông tin là nền tảng để nâng cao hiệu quả, cải thiện chất lượng từ khâu sản xuất đến cung ứng dịch vụ.
Trong lĩnh vực giáo dục cũng được sự hỗ trợ hiệu quả từ công nghệ thông tin. Rất nhiều công ty, tổ chức hoặc bản thân các cở sở đào tạo đều phát triển các sản phẩm phần mềm để hỗ trợ công tác quản lý và đào tạo, từ một phần riêng lẻ đến một hệ thống đa chức năng bao gồm toàn bộ các hoạt động: điều phối giảng đường, quản lý hồ sơ sinh viên, đăng ký môn học, học phí, quản lý thư viện. Đến đầu năm học 2013-2014, công nghệ thông tin được áp dụng vào tất cả các quy trình quản lý sinh viên tại trường Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh.
Từ khâu tuyển sinh đầu vào, quản lý thông tin sinh viên, xếp thời khóa biểu, quản lý điểm, xét tốt nghiệp… Tuy nhiên, vẫn còn một số bộ phận, việc áp dụng công nghệ thông tin chỉ dừng ở mức cơ bản như sử dụng Winword, Excel do các phần mềm quản lý không đáp ứng chính xác và đầy đủ các đặc thù riêng của công việc. Trong đó, xếp lịch thi cho sinh viên là một trong những công việc chính yếu trong công tác sinh viên và đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo kế hoạch đào tạo năm học. Nếu lịch thi được tổ chức tốt, thời gian tổ chức thi sẽ được rút ngắn, cán bộ coi thi được bố trí hợp lý và hiệu quả, số lượng đề thi được giảm bớt, có cơ sở để đánh giá chất lượng giảng dạy (sử dụng cùng đề thi); quỹ phòng, tài nguyên cơ sở vật chất khác được sử dụng tối ưu. Nhưng thực tế hiện nay, dữ liệu được trích từ hệ thống phần mềm Quản lý đào tạo ra tập tin Excel và sau đó lịch thi được sắp xếp dựa trên cảm tính của nhân viên phụ trách.
Cách làm này có thể dẫn đến việc không theo kịp kế hoạch đào tạo, 2 thời gian tổ chức thi kéo dài, có thể nhiều sai sót do thao tác thủ công, không tối ưu được việc sử dụng các nguồn tài nguyên, sinh viên có thể bị trùng lịch thi. Do đó, việc xây dựng một hệ thống quản lý thông tin và hỗ trợ xếp lịch thi tự động để giải quyết những vấn đề nêu trên, hỗ trợ công tác quản lý, đảm bảo kế hoạch đào tạo là việc làm cần thiết.2 Mục đích nghiên cứu: Mục đích của đề tài được thực hiện để đạt được kết quả là xây dựng hệ thống quản lý thông tin và hỗ trợ xếp lịch thi tự động, được thể hiện qua 3 nội dung chính sau: 1.1 Khảo sát, phân tích hiện trạng: công việc xếp lịch thi hiện tại, các yêu cầu và các đối tượng liên quan. - Khảo sát hiện trạng hệ thống hiện tại và các phương pháp đang được sử dụng để xếp lịch thi. - Xác định các yếu tố, các đối tượng có ảnh hưởng đến việc xếp lịch thi tự động.2 Xây dựng hệ thống Quản lý thông tin và hỗ trợ xếp lịch thi tự động: Dựa trên các tài liệu nghiên cứu, các bài báo về tự động hóa xếp lịch thi trong và ngoài nước; sử dụng các bộ mã nguồn mở, các module hỗ trợ sẵn có.
Hệ thống này phải đáp ứng được nhu cầu đặc trưng của nhà trường, nâng cao chất lượng quản lý và phục vụ sinh viên. Cụ thể là có thể xây dựng được lịch thi theo từng học kỳ đáp ứng một số yêu cầu sau: - Thời gian thực hiện công việc xếp lịch thi được rút ngắn, tránh các sai sót khách quan do được thực hiện tự động. - Lịch thi được tổ chức dưới dạng cơ sở dữ liệu có cấu trúc và được chuẩn hóa giúp dễ dàng truy xuất và phục vụ các nhu cầu thống kê, báo cáo nếu có.3 Đánh giá việc triển khai hệ thống: Cuối cùng, đánh giá việc triển khai hệ thống mới trong điều kiện thực tế theo các tiêu chí sau: - Thời gian thực thi thực tế của hệ thống. - Khả năng đáp ứng các yêu cầu của bài toán đặt ra.
- Mức độ sử dụng các nguồn tài nguyên như cơ sở tổ chức thi, cán bộ coi thi, thời gian tổ chức thi.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi luận văn này xây dựng hệ thống quản lý thông tin và hỗ trợ xếp lịch thi tự động tại trường Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh. Trong đó, bao gồm lịch thi theo học kỳ cho nhiều hệ Đại học, Cao đẳng, Đại học bằng thứ 2, liên thông từ Cao đẳng lên Đại học và cho 15 ngành khác nhau.4 Phương pháp nghiên cứu: Phân tích, đánh giá hệ thống xếp lịch hiện tại. Phân tích và đưa ra các ràng buộc, yêu cầu đặc trưng, các yếu tố ảnh hưởng và các đối tượng liên quan trực tiếp đến việc xây dựng hệ thống hỗ trợ xếp lịch thi tự động của trường Đại học Mở Tp.
Tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng các bài toán xếp lịch thi. Cụ thể là các vấn đề sau: - Nghiên cứu lý thuyết đồ thị, bài toán tô màu và các giải thuật heuristic có liên quan để gom các nhóm lớp không có xung đột, có thể tổ chức thi chung. - Nghiên cứu các bài báo, các báo cáo đã được công bố có mô hình và các yêu cầu tương tự với hệ thống dự định triển khai. Đánh giá lại việc triển khai hệ thống trong điều kiện thực tế.
4 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương 2 trình bày tổng quan về lý thuyết bài toán xếp lịch thi, các nghiên cứu có liên quan. Quan trọng nhất là phần trình bày hiện trạng và các yếu tố, đối tượng có liên quan trực tiếp đến việc xếp lịch thi tại trường Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh làm cơ sở để xây dựng hệ thống xếp lịch hỗ trợ xếp lịch thi tự động.1 Giới thiệu: Vấn đề xếp lịch đã được nghiên cứu từ hơn 40 năm. Thao tác xếp lịch diễn ra ở rất nhiều lãnh vực khác nhau như: bảng phân công trực y tá, lập lịch thi đấu thể thao, lập lịch vận tải.
và theo ý kiến chủ quan trong quá trình nghiên cứu của tác giả lập lịch trong các trường đại học, cao đẳng (cơ sở đào tạo) như thời khóa biểu, lịch thi. được nghiên cứu rộng rãi nhất. Vấn đề xếp lịch có thể được phân loại như một loại lập kế hoạch, trong đó thường cung cấp thông tin về thời gian cho các sự kiện đặc biệt xảy ra và liên quan đến việc phân bổ các nguồn tài nguyên. Hay nói cách khác, xếp lịch là việc phân bổ các nguồn tài nguyên vào khoảng thời gian hay thời điểm bắt buộc cụ thể.
Công việc này luôn là một thách thức khó do với số lượng lớn của các đối tượng cần được xếp lịch và những ràng buộc cứng hoặc mềm cần được thỏa mãn. Theo tác giả Burke (2012): “Xếp lịch là một vấn đề với bốn thông số: T, bộ hữu hạn về thời gian; R, một bộ hữu hạn các nguồn lực; M, một bộ hữu hạn của các cuộc họp (meeting); và C, một tập hợp hữu hạn các ràng buộc. Vấn đề là gán thời gian và nguồn lực cho các cuộc họp để thỏa mãn các ràng buộc ở mức cao nhất. Các kỹ thuật xếp lịch tại các cơ sở đào tạo đã được nguyên cứu và ứng dụng tự động từ những năm 1985 và cho đến nay vẫn còn rất nhiều nghiên cứu khác nhằm cải tiến, tối ưu bài toàn xếp lịch theo từng đặc trưng cụ thể của cơ sở đào tạo.
Trong bài toán xếp lịch tại các cơ sở đào tạo có thể chia làm 02 (hai) bài toán chính: Thời khóa biểu các khóa học (Course timetabling) và lịch thi (Examination timetabling). 5 Những đặc trưng cơ bản của 2 nhóm này được xem là tương tự nhau: sinh viên và giảng viên không thể tham dự vào cùng hai hay nhiều khóa học / lớp học tại cùng một thời điểm, tuy nhiên chúng cũng có những đặc trưng riêng. Trong thời khóa biểu các khóa học, kế hoạch học tập được xếp vào những khoảng thời gian và phòng học cụ thể trải dài trong tuần, không có giảng viên và sinh viên tham dự 2 lớp học (hoặc nhiều hơn) tại cùng một thời điểm và yêu cầu về sức chứa phòng học cũng phải được thỏa mãn. Đối với lịch thi, các ca thi phải được xếp vào các khoảng thời gian hữu hạn (thường từ 2 đến 3 tuần), không sinh viên nào phải tham dự 2 kỳ thi cùng một thời điểm và yêu cầu về sức chứa phòng thi cũng phải được thỏa mãn.
Trường Đại học Mở Tp. HCM tổ chức đào tạo theo hình thức tín chỉ, sinh viên lích lũy đủ số tín chỉ quy định sẽ được xét và công nhận tốt nghiệp. Đầu mỗi học kỳ, sinh viên sẽ căn cứ theo Chương trình đào tạo đã công bố và tình hình học tập của cá nhân để tự đăng ký môn học theo ngành mình đã chọn. Kết thúc thời gian đăng ký môn học và thời gian hoàn tất đóng học phí, nhà trường sẽ căn cứ theo sĩ số đăng ký, lên lịch thi và công bố cho sinh viên trên trang web trường và trang cá nhân của sinh viên.2 Tình hình nghiên cứu liên quan Xếp lịch nói chung đã được nghiên cứu từ lâu, mục tiêu chính là đưa công việc này được thực hiện tự động và tối ưu các nguồn tài nguyên trên cơ sở dữ liệu cho trước.
Do tính chất đặc trưng của từng đơn vị đào tạo dẫn đến các yêu cầu, ràng buộc riêng biệt từ đó các rất nhiều tác giả đưa ra những nghiên cứu khác nhau tạo nên sự đa dạng trong bài toán xếp lịch. Hiện nay, do tính cấp thiết của đề tài vào trong ứng dụng thực tế, trong và ngoài nước đều có các công trình nghiên cứu liên quan. Các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào phần ứng dụng và các giải thuật cải tiến, các heuristic tô màu đồ thị để gom nhóm lớp, khóa học. phần xếp các nhóm vào lịch cụ thể đóng một phần rất quan trọng nhưng lại ít được đề cập đến.
6 Trong nước, có bài báo cáo “Thuật toán tô màu đồ thị và ứng dụng xếp lịch thi” của tác giả Nghiêm Văn Hưng.