Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng GV mầm non. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng GV các trường MN Tỉnh Cao Bằng. Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng GV các trường MN Tỉnh Cao Bằng theo CNN.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dƣỡng GVMN Đất nước Việt Nam ngay từ thời xa xưa ông cha ta đã có truyền thống hiếu học, với truyền thống tôn sư trọng đạo rất coi trọng vai trò của người thầy giáo. Điều đó nhắc nhở mọi người phải quan tâm mọi mặt đến giáo dục, đến đội ngũ giáo viên. Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước rất quan tâm.
Chủ tịch Hồ chí Minh đã chỉ ra rằng: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các cấp, Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới. Cán bộ và giáo viên phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự mãn cho là giỏi rồi thì dừng lại”. Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, nhằm mục đích dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước đi lên con đường chủ nghĩa xã hội, phấn đấu năm 2020 đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp, đó là nhiệm vụ hàng đầu đảm bảo xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đảng ta đã khẳng định: “ Muốn tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi, phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”.
Là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, Giáo dục mầm non có nhiệm vụ quan trọng là hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một. Muốn đạt được mục tiêu trên, việc đầu tiên cần phải chăm lo phát triển năng lực sư phạm cho đội ngũ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo viên, bởi vì giáo viên là nhân tố quyết định trực tiếp đến quá trình hình thành phát triển nhân cách trẻ. Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD giai đoạn 2005 -2010 trong mục tiêu tổng quát đã nêu: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo thông qua việc QL, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp GD để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.”[1] Với những chủ trương, chính sách về hoạt động GD như trên, muốn thắng lợi thì nhân tố con người là cực kỳ quan trọng, trong đó đội ngũ GV và CBQLGD “phải tiến hành việc BD một cách nghiêm chỉnh, thực hiện các kế hoạch BD với ý thức chấp hành pháp lệnh của Nhà nước.
Cả người có trách nhiệm BD cho người khác và người được BD đều phải phát huy cao độ ý thức làm chủ, thấy hết trách nhiệm của mình đối với tương lai của ngành để làm tốt hoạt động này”. Trước năm 1975, vấn đề bồi dưỡng GV chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống. Sau năm 1975, các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, V, đặc biệt là Đại hội VI với đường lối đổi mới, đã mở ra một giai đoạn mới cho qua trình phát triển của sự nghiệp giáo dục. Đã xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, lý luận dạy học, các bài viết đăng trên các tạp chí, tập san, báo ngành ngày càng nhiều.
Nhưng vấn đề lý luận về bồi dưỡng GV chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống. Trong giai đoạn này có một số tác giả đề cập đến như: Ngô Công Hoàn với cuốn sách Giao tiếp và ứng xử của cô giáo với trẻ em(1995) trình bày các vấn đề cơ bản về phương thức giao tiếp với trẻ em, ứng xử của cô giáo mầm non, người lớn, xã hội đối với quá trình hình thành "nhân cách gốc" ở trẻ em tuổi mầm non.[15] Đinh Thị Kim Thoa (2008), Đánh giá trong giáo dục mầm non, nói về, một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu những lý luận về đánh giá trong giáo dục mầm non; kinh nghiệm về đáng giá chất lượng GDMN, xác định nội dung, tiêu 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chí đánh giá, phương pháp đánh giá chương trình GDMN từ đó làm tiền đề cơ sở bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non[28]. Năm 1997, ấn phẩm "Tự học, tự đào tạo - tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam" [10] ra đời, có nhiều bài viết khá sâu sắc của tác giả tên tuổi như: cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành, Vũ Văn Tảo.nhưng số lượng các bài viết có đề cập tới lĩnh vực bồi dưỡng GV còn ít và chưa bàn về BD GVMN. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục.[16] Nguyễn Kỳ (1987), Mấy vấn đề về quản lý giáo dục, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 34.[18] Theo tác giả Nguyễn Trí (2002)[27] việc nâng cao trình độ văn hóa chung, trình độ sư phạm cho đội ngũ GV nước ta là việc làm chiến lược, có ý nghĩa thế giới và khu vực.
Để có đội ngũ GV ngang tầm với thế giới và khu vực, việc đào tạo lại đội ngũ GV nước ta đòi hỏi một khoảng thời gian dài hàng thập kỉ, một sự nỗ lực lớn của Nhà nước và của từng cá nhân GV. Để có thể dạy được các kiến thức mới, vận dụng phương pháp dạy học phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu của lớp trẻ, nếu mỗi GV không tự vượt lên chính mình, không tự chiến thắng những thói quen dạy học cũ kỹ, lạc hậu thì bản thân GV và toàn thể đội ngũ không thể đáp ứng yêu cầu của chương trình mới. Có nhiều hình thức BD GV, trong đó BD GV dạy chương trình và sách giáo khoa mới chỉ là một hình thức đang nổi lên, sôi động trong những năm học trước mắt, khi toàn ngành đang phấn đấu thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội, Chỉ thị 14 của Thủ tướng chính phủ. Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên, nói về các vấn đề để nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức cho đội ngũ giáo viên[7].
Nhóm tác giả: Lê Xuân Hồng, Trần Quốc Minh, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai và Lê Thị Khang với cuốn sách Cẩm nang dành cho GV trường mầm non(2001) đã nêu ra những khía cạnh đa dạng, đặc trưng về các vấn đề khó khăn của trẻ, phụ huynh và GV trường mầm non (nảy sinh trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường, lớp MN, gia đình) và các giải pháp GD phong phú mang tính định hướng, phù hợp 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với các nguyên tắc sư phạm, tâm sinh lí lứa tuổi để ngăn chặn và khắc phục những tình huống trên.[14] Tác giả Hà Nhật Thăng và tác gỉa Lê Quang Sơn với cuốn sách “Rèn luyện kỹ năng sư phạm” (2010)[29], Nguyễn Văn Lê với cuốn sách “Nghề thầy giáo”, Tôn Thân với bài báo “Vai trò của người GV trong quá trình dạy học”. nói về vai trò của người GV, kỹ năng sư phạm, đổi mới hoạt động đào tạo, BD GV. Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục đã nghiên cứu về vấn đề quản lý GV như: “Giải pháp BD chuẩn hóa GV mẫu giáo các tỉnh Duyên hải miền Trung” (Tác giả Nguyễn Huy Thông – 1999), “Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ GV MN trên địa bàn huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” (Tác giả Vũ Đức Đạm – 2005), “Quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho GV MN TP Thái Nguyên” (Tác giả Lưu Thị Kim Phượng-2009), “Thực trạng hoạt động quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở một số trường MN tại TP Hồ Chí Minh” (Tác giả Nguyễn Hữu Lê Duyên-2011)[8] đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đề xây dựng, BD, quy hoạch, QL, phát triển đội ngũ GV, đã từng bước củng cố, hoàn thiện dần cơ sở lý luận về xây dựng đồng thời đề xuất các biện pháp trong việc quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, điều kiện nhà trường mà tác giả đang hoạt động để từng bước củng cố, đào tạo, BD đội ngũ này trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực trong giáo dục, quyết định sự phát triển giáo dục. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề “Quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mầm non theo Chuẩn nghề nghiệp tại tỉnh Cao Bằng”.
Tiếp thu, kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên, đề tài luận văn này sẽ đưa ra thực trạng hoạt động quản lý BD GV các trường MN Tỉnh Cao Bằng và trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp có tính cấp thiết, tính khả thi phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương trong hoạt động quản lý BD GVMN nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN Tỉnh Cao Bằng đáp ứng CNN trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo. Điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý.
Ngày nay quản lý đã trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội.