ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đường là một bệnh mạn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ lượng hoóc môn - insulin để điều chỉnh lượng đường trong máu hoặc khi cơ thể không thể sử dụng hiệu quả insulin mà nó tạo ra. Tăng đường huyết hay tăng nồng độ đường trong máu là một tác động phổ biến của bệnh đái tháo đường dẫn đến tổn hại nghiêm trọng cho nhiều hệ thống của cơ thể, đặc biệt là các dây thần kinh và mạch máu. Bệnh đái tháo đường là một trong bốn bệnh không lây nhiễm chính và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu đang gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây [7]. Theo số liệu của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế, năm 2019, trên toàn thế giới có 463 triệu người mắc bệnh đái tháo đường trong độ tuổi từ 20-79 tuổi tương đương 1 trong 11 người trưởng thành đang sống với bệnh đái tháo đường.
Dự đoán vào năm 2045, con số này sẽ tăng tới khoảng 700 triệu người. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường chỉ dao động từ 1,1% (ở thành phố Hà Nội) đến 2,52% (ở thành phố Hồ Chí Minh) vào những năm 1990, nhưng đến năm 2012, tỷ lệ này đã tăng cao hơn 5,42% ở những người trong độ tuổi trưởng thành; người bệnh đái tháo đường chưa được phát hiện và chẩn đoán tại cộng đồng chiếm tỷ lệ tương đối cao (63,6%) [4]. Nguyên nhân làm cho người bệnh mắc bệnh đái tháo đường nặng hơn và hay để lại những tổn thương lớn cho người bệnh đều xuất phát từ các yếu tố nguy cơ và cũng là nguyên nhân chính gây ra các bệnh lý về thận, tim mạch, tăng huyết áp, biến chứng mắt, cắt cụt chi. Tuy nhiên, chúng ta cần biết rằng, 70% trường hợp bị đái tháo đường có thể cải thiện tình trạng bệnh bằng cách thay đổi lối sống, chế độ ăn cân bằng và tăng cường thể dục rèn luyện sức khỏe sẽ làm cho bệnh chậm tiến triển cũng như chậm xuất hiện các biến chứng của bệnh [45].
Vì vậy, quản lý tốt người bệnh đái tháo đường đang là vấn đề quan tâm cần hướng tới của ngành y tế, nếu công tác quản lý 2 người bệnh đái tháo đường không được chú ý, quan tâm sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh, gia đình người bệnh và toàn xã hội. Năm 2018, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 3756/QĐ-BYT về các hoạt động dự phòng, cách phát hiện, phương pháp chẩn đoán, điều trị và công tác quản lý bệnh không lây nhiễm phổ biến trong đó có bệnh đái tháo đường, bao gồm các nội dung về truyền thông giáo dục sức khỏe, hướng dẫn từ bỏ thói quen sống không lành mạnh nhằm đảm bảo cuộc sống và hướng dẫn người bệnh nhận biết về cách phát hiện bệnh và việc quản lý người bệnh [4]. Tính đến 31/3/2021, số bệnh nhân đái tháo đường được phát hiện trên địa bàn tỉnh Cao Bằng là 4.500 người, trong đó số bệnh nhân được quản lý là 4. Công tác điều trị và quản lý người bệnh đái tháo đường được triển khai tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh và 10 Trung tâm Y tế huyện/thành phố.
Số bệnh nhân đái tháo đường được quản lý và điều trị tại cơ sở y tế tuyến huyện chiếm một phần ba số bệnh nhân của tỉnh. Đây cũng là một trong những yếu tố khó khăn cho người bệnh. Qua khảo sát nhanh cho thấy, số lượng bệnh nhân đái tháo đường có xu hướng tăng tại tỉnh, tuy nhiên công tác tư vấn cho người bệnh hiện nay chưa được chú trọng, số lượng nhân viên y tế được đào tạo về đái tháo đường còn ít, một số bệnh nhân chưa tuân thủ điều trị, bỏ dở thuốc giữa chừng. Câu hỏi đặt ra là: công tác quản lý người bệnh đái tháo đường tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đang được triển khai như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý người bệnh đái tháo đường? Từ đó đề xuất các biện pháp có thể ngăn ngừa, cải thiện để công tác quản lý người bệnh đái tháo đường được triển khai có hiệu quả, tiến tới có thể triển khai quản lý đến tuyến xã trong những năm tiếp theo.
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng quản lý người bệnh đái tháo đường týp 2 tại tuyến y tế cơ sở tỉnh Cao Bằng năm 2022 và đề xuất giải pháp". 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng quản lý người bệnh đái tháo đường týp 2 tại tuyến y tế cơ sở tỉnh Cao Bằng năm 2022. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý người bệnh đái tháo đường týp 2 tại tuyến y tế cơ sở tỉnh Cao Bằng và đề xuất giải pháp.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Định nghĩa bệnh đái tháo đường Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng gluco huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [2]. Bệnh ĐTĐ týp 2 là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau: (1) tăng đường huyết; (2) kết hợp với những bất thường về chuyển hóa carbonhydrat, lipid và protein; (3) bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch khác [3].
Nguyên nhân của bệnh - Yếu tố di truyền. - Yếu tố môi trường: đây là nhóm các yếu tố có thể can thiệp để giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các yếu tố đó là: + Sự thay đổi lối sống: như giảm các hoạt động thể lực, thay đổi chế độ ăn uống theo hướng tăng sinh, giảm chất xơ gây dư thừa năng lượng. + Chất lượng thực phẩm.
+ Các stress - Tuổi thọ ngày càng tăng, nguy cơ mắc bệnh càng cao. Đây là yếu tố không thể can thiệp. Cơ chế bệnh sinh Suy giảm chức năng tế bào beta và kháng insulin: + Tình trạng thừa cân, béo phì, ít hoạt động thể lực là những đặc điểm thường thấy ở người bệnh ĐTĐ týp 2 có kháng insulin. Tăng insulin máu, kháng insulin còn gặp ở người tiền ĐTĐ, THA vô căn, người mắc hội chứng bệnh chuyển hóa 5 + Người ĐTĐ týp 2 bên cạnh kháng insulin còn có thiếu insulin-đặc biệt khi lượng huyết tương khi đói trên 10,0mmol/L [3].
Chẩn đoán đái tháo đường Theo Hiệp hội ĐTĐ Mỹ - American Diabetes Association (ADA): chẩn đoán ĐTĐ dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây [40]: - Mức glucose huyết tương lúc đói ≥126 mg/dl (hay 7 mmol/L). Người bệnh phải nhịn ăn ít nhất 8 giờ, hoặc: - Mức glucose huyết tương ≥ 200 mg/dl (hay 11,1 mmol/L) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uoogs 75g đường - HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. - Ở người bệnh có các triệu chứng lâm sàng của tăng đường huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dl (hay 11,1 mmol/L).
Tại Việt Nam áp dụng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán ĐTĐ là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥126 mg/dl (hay 7 mmol/L). Nếu HbA1c được đo tại phòng thí nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ.5 Khái niệm và nhiệm vụ của trạm Y tế xã a. Khái niệm trạm Y tế xã, phường,thị trấn Trạm Y tế xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là trạm Y tế xã) là đơn vị kỹ thuật đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống y tế nhà nước, có chức năng cung cấp, thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã [7]. Tổ chức hệ thống Y tế Việt Nam b.
Nhiệm vụ của trạm Y tế xã [7] - Thực hiện các hoạt động chuyên môn kỹ thuật: + Về Y tế dự phòng; + Về khám bệnh, chữa bệnh; kết hợp ứng dụng y học cổ truyền trong phòng bệnh và chữa bệnh; + Về chăm sóc sức khỏe sinh sản; + Về cung ứng thuốc thiết yếu; + Về quản lý sức khỏe cộng đồng; + Về truyền thông, giáo dục sức khỏe; - Hướng dẫn về chuyên môn và hoạt động đối với đội ngũ nhân viên y tế thôn, bản; - Phối hợp các cơ quan liên quan triển khai thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, thực hiện cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình theo phân tuyến kỹ thuật và theo quy định của pháp luật; 7 - Tham gia kiểm tra các hoạt động hành nghề y, dược tư nhân và các dịch vụ có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân; - Thường trực ban chăm sóc sức khỏe cấp xã về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn; - Thực hiện kết hợp quân - dân y theo tình hình thực tế ở địa phương; - Chịu trách nhiệm quản lý nhân lực, tài chính , tài sản của đơn vị theo phân công phân cấp và theo quy định của pháp luật; - Thực hiện chế độ thống kê báo cáo theo quy định; - Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc trung tâm Y tế huyện và chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã giao. Khái niệm điều trị Điều trị là được coi là một quá trình cung cấp các dịch vụ y tế, quá trình quản lý và chăm sóc bệnh nhân với các nỗ lực khắc phục một vấn đề sức khỏe, thường là sau khi chẩn đoán. Trong lĩnh vực y tế, nó thường đồng nghĩa với liệu pháp hay phép chữa bệnh [15].7 Khái niệm quản lý Không có một định nghĩa duy nhất cho thuật ngữ quản lý. Tùy từng tình huống cụ thể mà có các định nghĩa về quản lý khác nhau.
Một số định nghĩa quản lý thường được sử dụng [15]: - Quản lý là làm cho mọi người làm việc có hiệu quả: Trong khái niệm quản lý này đề cập đến quản lý con người. Vấn đề đặt ra là làm sao cho mọi thành viên trong tổ chức y tế hay trong cộng đồng tùy theo chức năng, nhiệm vụ, và điều kiện cụ thể đều phải làm việc theo kế hoạch một cách tích cực, có trách nhiệm để đạt được mục tiêu đề ra. - Quản lý là làm cho mọi người biết việc cần làm và làm cho việc đó hoàn thành: Những việc, hoạt động, dịch vụ y tế hoặc chăm sóc sức khỏe được ghi trong kế hoạch hoặc được thông qua phải được thực hiện.