Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Chương 2: Thực trạng an toàn thực phẩm và quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3: Quan điểm và các giải pháp kiện toàn quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 14 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.
Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm * Khái niệm quản lý nhà nước Thuật ngữ “Quản lý nhà nuớc” đuợc sử dụng khá phổ biến với nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo cách hiểu thông dụng: “Quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa, xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội và phát triển xã hội theo những mục tiêu đã định. Hoặc: “Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Theo cách hiểu khác: “Quản lý nhà nước là hoạt động của toàn bộ máy nhà nước từ cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp); các cơ quan hành chính nhà nước (Chính phủ, các bộ và UBND các cấp); cơ quan kiểm sát (Tòa án nhân dân các cấp, viện kiểm sát nhân dân các cấp. Theo cách hiểu này, xét về mặt chức năng, QLNN bao gồm các hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính của cơ quan hành pháp và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp.
Trong QLNN, chủ thể quản lý là các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp; đối tượng quản lý của nhà nước là toàn bộ dân cư sinh sống và làm việc trong lãnh thổ, công dân làm việc, học tập có thời hạn ở nước ngoài. Đồng thời, cũng có thể hiểu: “Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà nước; là tổng thể về thể chế, pháp luật, quy tắc về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) có tư cách 15 Luan van pháp nhân công pháp (công quyền) tiến hành bằng các VBQPPL để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhà nước giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân. Theo đó, QLNN là một dạng quản lý đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, lấy pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội, thoả mãn các nhu cầu hợp pháp của nhân dân. Như vậy, QLNN có thể được hiểu là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước.
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu các khái niệm quản lý nhà nuớc của các học giả, các nhà nghiên cứu như trên, có thể đưa ra khái niệm chung về QLNN như sau: Quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nước lên các đối tượng quản lý của nhà nước, bao gồm: Các tổ chức, cơ quan, các cán bộ, công chức, viên chức của nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội một cách thường xuyên, liên tục để đạt được những mục tiêu mà nhà nước đề ra đó là ổn định và phát triển xã hội. * Khái niệm thực phẩm “Thực phẩm” là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, có thể hiểu: “Thực phẩm là đồ làm món ăn nói chung, phân biệt với lương thực. Khái niệm về thực phẩm cũng có thể được hiểu là bất kỳ vật phẩm nào có thành phần bao gồm các chất: Đường- bột (gluxit), chất béo (lipit), chất đạm (protit), các chất vi lượng (vitamin, khoáng chất… ), nước mà con người có thể ăn, uống được với mục đích cung cấp năng lượng, nước, các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng, duy trì sự tồn tại và vận động của cơ thể. Thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật, động vật, vi sinh vật hay là các sản phẩm chế biến từ các phương pháp khác nhau.
Khái niệm thực phẩm được thu hẹp hơn tại Khoản 20, Điều 2, Luật ATTP số: 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010, Quốc hội khóa 12, theo đó, thực phẩm là: “Sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản” 16 Luan van Như vậy, có thể hiểu: Thực phẩm là những sản phẩm nhằm phục vụ cho nhu cầu ăn, uống của con người thông qua sản xuất, chế biến, đánh bắt, hái lượm, nuôi, trồng bằng những phương pháp khác nhau. Thực phẩm là nguồn cung cấp năng lượng, nước và các chất dinh dưỡng để con người duy trì sự tồn tại và vận động của cơ thể. Thực phẩm bao gồm các loại chính như sau: - Thực phẩm chức năng: Là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ mắc bệnh, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng y học. - Thực phẩm tươi sống: Là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến.
- Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng: Là thực phẩm được bổ sung vitamin, chất khoáng, chất vi lượng nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các chất đó đối với sức khỏe cộng đồng hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng. - Thực phẩm biến đổi gen: Là thực phẩm có một hoặc nhiều thành phần nguyên liệu có gen bị biến đổi bằng công nghệ gen. - Thực phẩm đã qua chiếu xạ: Là thực phẩm đã được chiếu xạ bằng nguồn phóng xạ để xử lý, ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm. - Thức ăn đường phố: Là thực phẩm được chế biến dùng để ăn, uống ngay, trong thực tế được thực hiện thông qua hình thức bán rong, bày bán trên đường phố, nơi công cộng hoặc những nơi tương tự.
- Thực phẩm bao gói sẵn: Là thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh, sẵn sàng để bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn ngay. * Khái niệm an toàn thực phẩm Hiểu theo nghĩa rộng, ATTP là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu dùng. Theo nghĩa hẹp, ATTP là khái niệm dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo 17 Luan van quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra. ATTP cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe tiềm năng nghiêm trọng.
An toàn thực phẩm cũng được hiểu là tất cả những điều kiện, biện pháp cần thiết từ nuôi trồng sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Vì vậy, thực hiện ATTP là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, công thương, y tế. và đặc biệt là người tiêu dùng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Theo một cách hiểu khác, ATTP là khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người khi sử dụng.
Tại Khoản 1, Điều 2, Luật ATTP số: 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010, Quốc hội khóa 12, đưa ra khái niệm về ATTP: “Là việc đảm bảo để thực phẩm không gây hại tới sức khỏe, tính mạng con người”. Như vậy, có thể hiểu, ATTP là một hệ thống những nguyên tắc và điều kiện được đưa ra thực hiện nhằm đảm bảo thực phẩm không gây hại tới sức khỏe, tính mạng con người. Hệ thống các nguyên tắc và điều kiện này bao gồm các quy định, quy trình, QCVN, TCVN trong nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh, bảo quản, vận chuyển và sử dụng thực phẩm. * Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm Từ những khái niệm đã được làm rõ ở trên, có thể đưa ra khái niệm QLNN về ATTP: Là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành, trong đó, nhà nước sử dụng pháp luật và chính sách để điều hành, điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trong trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhằm cho hoạt động đảm bảo ATTP được diễn ra theo đúng quy định của pháp luật và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ đối với toàn xã hội.
Hoạt động QLNN về ATTP do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm đạt tới mục tiêu đảm bảo ATTP, góp phần duy trì sự ổn định và 18 Luan van phát triển của toàn xã hội. Một số khái niệm liên quan * Khái niệm tổ chức quản lý nhà nước Thuật ngữ “Tổ chức” được tiếp cận và hiểu theo nhiều cách khác nhau, cụ thể: “Tổ chức là tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung. Ở đây, “tổ chức” được hiểu là một danh từ, chỉ tập hợp gồm nhiều người. Theo cách hiểu khác: “Tổ chức là một tập hợp xã hội được phối hợp có ý thức trong một giới hạn tương đối về các chức năng cơ bản liên quan để thực hiện nhiệm vụ chung của tập hợp xã hội đó nhằm đạt được mục đích xác định.
Tiếp cận từ góc độ hành chính, có thể hiểu: “Tổ chức là một phân hệ có những mối quan hệ hữu cơ hợp lý, rõ ràng, hợp tác và phối hợp chặt chẽ, tác động lẫn nhau trong một tổng thể, phát sinh một lực tổng hợp tác động cùng chiều lên một đối tượng nhằm đạt những mục tiêu chung đã định. Như tổ chức nhà nước, tổ chức chính quyền trung ương, tổ chức chính quyền địa phương, tổ chức liên hợp quốc…” [38, tr. Đồng thời, “Nếu là một động từ, thì tổ chức là sắp xếp, thiết kế cơ cấu thành hệ thống. Nếu là một danh từ, thì tổ chức là chỉ cơ cấu của hệ thống.