CHƯƠNG 1.CO SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIEN VE SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN CUA QUAN HE NGA - TRUNG QUOC TRONG NHỮNG NAM DAU THE KỶ XXI. Chương nay, khóa luận sẽ lam rõ cơ sở lý luận dựa trên các giả thiết của Chủ nghĩa hiện thực mới và cơ sở thực tiễn từ tình hình thé giới, tình hình của Nga và Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2021.THỰC TRẠNG QUAN HỆ NGA - TRUNG TRONG NHỮNG NAM DAU THE KỶ XXI Chương này sẽ phân tích chính sách đối ngoại của Nga đối với Trung Quốc và ngược lại. Từ đó làm rõ thực trạng quan hệ Nga — Trung và đưa ra đánh giá về mô hình của cap quan hệ này trong giai đoạn nghiên cứu.TÁC ĐỘNG CUA MOI QUAN HỆ DEN VIỆT NAM VÀ DỰ BAO XU HƯỚNG PHÁT TRIÊN CỦA QUAN HỆ NGA - TRUNG Từ những chính sách giữa các bên trong quan hệ Nga — Trung đã dé cập ở chương hai, chương này sẽ làm rõ những tác động của quan hệ Nga — Trung đối với thé giới nói chung và Việt Nam nói riêng; dự báo kịch bản phat trién của cặp quan hệ này và đưa ra một số đề xuất chính sách cho Việt Nam.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THUC TIEN VE SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHAT TRIEN CUA QUAN HE NGA - TRUNG QUOC TRONG NHUNG NAM DAU THE KỶ XXI.Các khái niệm liên quan đến Chủ nghĩa hiện thực Chủ nghĩa hiện thực (CNHT) gan như là trường phái tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, có lịch sử phát triên lâu đời, xuất phát từ các tài liệu của các học giả từ Đông sang Tây. Lịch sử hình thành và tiễn trình phát triển của CNHT có thé được chia thành ba giai đoạn chính.
Giai đoạn phát triên đầu tiên kéo dài từ thời cô đại đến trước Chiến tranh thé giới thứ Hai, đây là thời kỳ xuất hiện những quan điểm đầu tiên và đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của lý thuyết Hiện thực trong các giai đoạn sau này. Đại diện cho giai đoạn nay là các nhà tư tưởng quan trọng như Thucydides, Hàn Phi, Nicollo Machiavelli và Thomas Hobbes. Giai đoạn thứ hai từ Chiến tranh thé giới thứ Hai đến cuối những năm 1970, là giai đoạn CNHT phát trién và trở thành một lý thuyết về QHQT. Nỗi bật trong số các học giả trong giai đoạn này như Hans Morgenthau và Henry Kissinger đã dong góp nhiều công trình nghiên cứu quan trọng và được biết đên rộng rãi.
Công trình “Lý thuyết về Chủ nghĩa hiện thực” ra đời năm 1979 của Kenneth Waltz đã đánh dau một giai đoạn phát triển mới của lý thuyết Hiện thực với sự ra đời của chủ nghĩa Tân hiện thực. Khác với chủ nghĩa hiện thực cổ điển nhắn mạnh cấp độ phân tích cá nhân, chủ nghĩa tân hiện thực nhấn mạnh cap độ phân tích hệ thông quốc tế khi phân tích nguyên nhân các quốc gia tìm cách theo đuổi quyền lực. Theo đó, các nhà tân hiện thực giả định rang trong một hệ thống vô chính phủ, sự phân bỗ quyền lực tương đối giữa các quốc gia trong hệ thong chính là yếu to then chốt đối với an ninh của mỗi quốc gia. Vì thé các quốc gia tìm cách nâng cao quyền lực, vì càng có nhiều quyền lực thì vi trí của nước đó trong hệ thông thé giới càng cao và an ninh của quốc gia đó càng được đảm bảo.
Mặt khác các quốc gia cũng tìm cách cân bằng quyền lực với những quốc gia mạnh hơn nhằm giảm thiêu sự chênh lệch về quyền lực, đồng nghĩa với giảm thiểu các đe dọa về an ninh. Về giới hạn mục tiêu theo đuôi quyền lực có các trả lời khác nhau ở hai phái , trong khi phái Hiện thực phòng thủ cho rằng các quốc gia sẽ theo § đuôi quyền lực ở mức độ tôi thiêu nhằm bảo đảm nhu cau tôn tai, thì phái Hiện thực tan công cho rằng không có giới hạn trong mong muốn quyền lực của các quốc gia, các quốc gia luôn có mục tiêu gia tăng quyền lực dé chiếm thé áp dao so với các quốc gia khác trong hệ thông. Về “Cân bằng quyền lực”, đối với nhiều học giả, cân bằng quyền lực” là nguyên tắc chủ yếu được liên hệ đến nhiều nhất về mặt lý thuyết khi nghiên cứu chính trị quốc tế, tuy nhiên, ý nghĩa của thuật ngữ này vẫn chưa thực sự rõ ràng và luôn là dé tài tranh luận với nhiều cách diễn giải bat đồng. Việc xác định mục tiêu của cân bằng quyền lực theo đó cũng không cụ thể, tuỳ thuộc vào bồi cảnh lịch sử từng giai đoạn và từng cách tiếp cận khác nhau.
Khi tiếp cận theo nghĩa là một nguyên tắc, thì cân bằng quyên lực là trạng thái của hệ thông quốc tế mà ở đó không có một quốc gia nào có sức mạnh áp đảo so với các quốc gia khác. Trạng thái này có thể được thiết lập thông qua việc tạo ra một thế đối lập với quốc gia hoặc nhóm quốc gia mạnh nhất bằng việc hình thành một đối thủ hoặc một liên minh có sức mạnh tương đương. Khi tiếp cận theo nghĩa là một chính sách thì cân bằng quyên lực là một loạt những biện pháp nhất quán của các chính khách nhằm duy trì trạng thái cân bang của cán cân quyên lực. Theo đó, các quốc gia có thé hình thành một liên minh chồng lại quốc gia có tiềm năng trở thành bá quyền hoặc thực hiện những biện pháp khác nhằm nâng cao khả năng kiêm chế những quốc gia hiểu chiến xâm lược.
Bên cạnh đó một quốc gia cũng có thé tự mình đóng vai trỏ cân bằng hệ thong bang cách thay đôi liên minh khi cần thiết. chính sách cân bằng quyền lực là nhằm duy trì một trạng thái cân bằng có lợi cho quốc gia hoặc một nhóm quốc gia thông qua các đường lối và chính sách cụ thé’. Cân bằng quyền lực là co sở cho an ninh quốc gia, là sự cần thiết sống còn cho an ninh quốc gia cũng như của cả hệ thong. Vì mục tiêu đó, mỗi quốc gia đều phải nỗ lực ngăn chặn bất kỳ quốc gia nào muốn phá vỡ sự cân bằng đang tôn tai, gây tôn hai tới lợi ích của bản thân mình.
Theo quan điểm này, cân bằng có tính hệ thông và xuất hiện bat ké các quốc gia có cô tình tìm cách tạo ra nó hay không do phan ứng dây chuyên giữa nhiều quốc gia tham gia vào đời sống quan hệ quốc tế. Chính việc cân bằng quyền lực (thường là do quá trình tự điều chỉnh của các quốc gia tạo nên) đã tao ra sự én định ! Lục Minh Tuần, (2014), Cân bằng quyền lực. Tạp chí Nghiên cứu quốc tế 9 tương đối trong hệ thống chính trị quốc tế trong những khoảng thời gian dài, Chiến tranh lạnh là một ví du điền hình. Cân bằng quyền lực có mối quan hệ mật thiết với khái niệm liên minh.
Các liên minh là các dàn xếp chính thức hoặc không chính thức mà các nước có chủ quyên ký kết nhằm đảm báo an ninh cho nhau đưới tác động của mỗi lo sợ về sức ép quân sự hay các lệnh cam vận liên quan đến kinh tế. Liên minh có thé hình thành vi rất nhiều nguyên nhân và cũng có thé tan rã theo cách như thế, nhưng nhìn chung các nước thường ngừng liên minh khi nhìn nhận không còn phù hợp về tư tưởng hoặc các mỗi đe dọa an ninh không còn. Một lý do khác là tương quan lực lượng giữa các nước trong liên minh không còn tương xứng, một quốc gia trở nên mạnh hơn và xem nước còn lại là đối thủ, trong khi nước còn lại xem đối tác của mình như một mỗi đe đọa, từ đó nảy sinh tình huồng tim kiếm một liên minh đối trọng mới. Khái quát lại.
nội dung chính của cân bằng quyền lực là theo quy luật tự nhiên, mọi quốc gia déu luôn luôn tìm các tăng cường đến mức tối đa sức mạnh và vị thé quốc tế của minh, và do sự điều chỉnh của “bản tay vô hình” không một quốc gia nào chiếm được bá quyên, từ đó cân bằng trong hệ thông được duy trì. Trong lịch sử quan hệ quốc tế, cân bằng quyên lực luôn phản ánh cạnh tranh và thoả hiệp của các cường quốc trên cơ sở so sánh lực lượng giữa họ với nhau nhằm phân chia lợi ích chung và ảnh hưởng với mục đích sau cùng nâng cao quyên lực quốc gia, đạt đến thống trị và bá quyền. Sự thong trị và bá quyên luôn sẽ lại liên tiếp vấp phải sự kháng cự không ngừng của các dan tộc bị thong trị nhằm thiết lập một trật tự thé giới cân bằng hơn. Kê từ sau Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất trên toàn cầu, thuyết cân bằng quyên lực đã gặp nhiều thách thức.
Từ đây, thuật ngữ Cân bằng mềm đã xuất hiện nhằm bồ sung, làm phù hợp hơn cho lý thuyết lâu đời này. Cân bảng mềm bat đầu nỗi lên như một khái niệm vào giữa những năm 2000 dé giải thích cho sự vắng mặt của Cân bằng cứng: chống lại bá quyền Hoa Kỳ sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Những người ủng hộ Cân bằng mềm. chủ yếu là các nhà lý thuyết theo chủ nghĩa hiện thực, lập luận rang trái ngược với dự đoán rằng “Can bằng quyền lực” không còn hiệu * Cân bằng cứng nghĩa là cân bằng quyền lực dya trên sức mạnh quân sự và các liên minh chính thức.
10 quả trong thé giới hậu Chiến tranh Lạnh, các chiến lược cân bằng thực sự vẫn đang diễn ra nhưng với những thay đổi trong hình thái của hệ thong quốc tế đòi hỏi logic cân bằng mới. Các nhà lý luận về Cân bằng mềm mô tả chiến lược là việc áp dụng các chiến thuật gián tiếp dé đối trọng với lợi ích của một cường quốc bá quyền. Robert Pape, người dé xuất hàng đầu về Cân băng mềm, định nghĩa nó như sau: “Cac hành động không trực tiếp thách thức ưu thé quân sự của Hoa Kỳ nhưng sử dụng các công cụ phi quân sự dé trì hoãn, làm thất bại và làm suy yếu các chính sách quân sự đơn phương gây han của Hoa Ky’. Một người ủng hộ cân bằng mềm khác, TV Paul, đưa ra định nghĩa rằng Cân bằng mém liên quan đến cân bang thiếu các liên minh chính thức.
Nó xảy ra khi các quốc gia nói chung phát triển các thỏa thuận hoặc phát triển về an ninh với nhau để cân bằng giữa một quốc gia có khả năng đe dọa hoặc một cường quốc đang trỗi dậy.