Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Đức là quốc gia bại trận, buộc phải ký kết Hòa ước Versailles ngày 28/6/1919 với các điều khoản hạn chế kinh tế và giải trừ quân bị khắt khe, đồng thời bị các cường quốc phương Tây cô lập ngoại giao. Cùng thời điểm trong thập niên 1920, Trung Quốc chìm trong tình trạng bất ổn chính trị và nội chiến liên miên giữa các phe phái quân phiệt cát cứ sau sự sụp đổ của triều đình Mãn Thanh và sự kiện Viên Thế Khải qua đời năm 1916. Đứng trước sức ép bảo vệ chính quyền và nhu cầu thống nhất quốc gia, chính quyền Quốc Dân Đảng tại Quảng Châu (về sau là chính phủ Nam Kinh) dưới sự lãnh đạo của Tôn Trung Sơn và kế tiếp là Tưởng Giới Thạch đã chủ động tìm kiếm các đối tác quốc tế để hiện đại hóa quân đội và xây dựng nền công nghiệp quốc phòng. Sau khi liên minh với Liên Xô tan vỡ vào năm 1927, chính phủ của Tưởng Giới Thạch đã lựa chọn Đức làm đối tác chiến lược hàng đầu do quốc gia này sở hữu nền tảng kỹ thuật - quân sự cao nhưng không còn giữ các đặc quyền tô giới thuộc địa tại Trung Quốc sau chiến tranh.
Về mục tiêu nghiên cứu, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ trọng tâm:
- Trình bày những yếu tố dẫn tới việc thiết lập quan hệ Đức - Trung từ năm 1926 đến năm 1938.
- Trình bày mối quan hệ kinh tế và quân sự giữa Đức và Trung Quốc trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến (1926-1938).
- Đánh giá về những lợi ích mà cả Đức và Trung Quốc thu được từ tiến trình hợp tác kinh tế, quân sự giai đoạn 1926-1938.
- Giải thích nguyên nhân dẫn tới sự suy thoái và đóng băng hoàn toàn quan hệ ngoại giao giữa Đức và Trung Quốc trong giai đoạn 1936-1938.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ trong lĩnh vực kinh tế, quân sự giữa Đức (thời kỳ Cộng hòa Weimar và thời kỳ Đức Quốc xã) và Trung Hoa Dân Quốc, cùng các chính sách kinh tế - quân sự song phương giữa hai chính phủ.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1926 (thời điểm các sĩ quan quân sự Đức nhận lời mời sang công tác tại Quảng Châu) đến năm 1938 (thời điểm chính quyền Đức Quốc xã rút toàn bộ cố vấn quân sự về nước và đóng băng quan hệ ngoại giao).
- Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu trên phạm vi lãnh thổ lục địa Trung Hoa do chính quyền Quốc Dân Đảng kiểm soát.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
- Cơ sở lý luận: Đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lịch sử xã hội và quan hệ quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả kết hợp hai phương pháp chuyên ngành lịch sử:
- Phương pháp lịch sử: Được sử dụng để khôi phục và trình bày tiến trình phát triển của quan hệ Đức - Trung theo đúng trình tự thời gian thực tế từ giai đoạn khởi đầu (1926), phát triển đỉnh cao (1933-1936) cho đến khi đổ vỡ (1937-1938).
- Phương pháp logic: Được sử dụng để phân tích bản chất, đánh giá vai trò của các phái bộ quân sự, hoạt động đầu tư của giới công nghiệp Đức, cơ chế trao đổi hàng hóa nguyên liệu - vũ khí và làm rõ các nhân tố địa chính trị dẫn tới sự đóng băng quan hệ giữa hai nước.
- Nguồn dữ liệu: Khóa luận khai thác hệ thống tài liệu chuyên khảo tiếng Anh và văn kiện lịch sử đã công bố:
- Sách chuyên khảo quốc tế: Công trình A Military History of Modern China 1924-1949 của F. Liu (Đại học Princeton, 1956); Germany and Republican China của William C. Kirby (Đại học Stanford, 1984); The Search for Modern China của Jonathan D. Spence (1990).
- Luận án, khóa luận học thuật: Nghiên cứu của Arthur Doiman (Germany and The Sino-Japanese conflict 1937-1942, Đại học Montana, 1960); luận án tiến sĩ của Stefan Berleb (The Evolution and Devolution of German Influence on Chinese Military Affairs, 1919-1938, Đại học Queensland, 2005); luận án tiến sĩ của Robyn L. Rodriguez (Journey to the East: The German Military Mission in China, 1927-1938, Đại học Ohio, 2011).
- Bài báo khoa học chuyên ngành: Các nghiên cứu của John P. Fox (1970) và Donald M. McKale (1977) trên Journal of Contemporary History; Donald S. Sutton (1982) trên The China Quarterly; Joan Maria Thomas (2017) trên Comillas Journal of International Relations.
- Văn kiện gốc và hồ sơ giải mật: Báo cáo tình báo German Intelligence Activities in China During World War II do Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) giải mật năm 2007; tài liệu Foreign Investments in China của Howard S. Ellis do Viện Quan hệ Thái Bình Dương (Honolulu) công bố năm 1929.
- Dữ liệu mạng: Nguồn tư liệu nghiên cứu từ nhật báo Lianhe Zaobao và chuyên trang phân tích lịch sử quân sự War Is Boring.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Các yếu tố dẫn tới thiết lập quan hệ giữa Đức và Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế, quân sự từ năm 1926 đến năm 1938
Chương 1 tập trung phân tích các điều kiện lịch sử của hai quốc gia sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tạo tiền đề thúc đẩy mối liên kết song phương.
Về phía Đức, Hòa ước Versailles buộc Đức bồi thường 5 tỉ USD trong giai đoạn 1919-1921 và nộp 1 tỉ Reichsmark (RM) đầu tiên vào ngày 31/8/1921. Do Đức xin hoãn trả nợ, ngày 12/1/1923 quân đội Pháp đã chiếm đóng vùng công nghiệp Ruhr (nơi cung cấp 4/5 sản lượng than và thép của Đức), gây ra cuộc khủng hoảng siêu lạm phát nghiêm trọng: tỷ giá từ 18.000 RM/USD (tháng 1/1923) rớt xuống 160.000 RM/USD (tháng 7/1923) và đạt 4 tỉ RM/USD vào tháng 8/1923. Đức mất 1/8 diện tích đất đai, gần 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt, gần 1/3 mỏ than, 2/3 sản lượng gang, gần 1/3 sản lượng thép và 1/7 diện tích trồng trọt. Toàn bộ thuộc địa bị tước đoạt, trong đó tô giới tại bán đảo Sơn Đông bị chuyển giao cho Nhật Bản theo Điều 156 và 159 của Hòa ước. Đồng thời, Đức phải bồi thường chiến phí cho Trung Quốc thông qua hệ thống Clearing House (Điều 296), gồm khoản trả trước 4.000 USD tiền mặt và 50% số tiền thanh lý tài sản tịch thu theo tuyên bố của Ngoại trưởng Yến Huệ Thanh.
Về mặt quân sự, quân đội Đức (Reichswehr) bị giới hạn tối đa 100.000 bộ binh, không có không quân, không có tàu chiến lớn và bị cấm thành lập Bộ Tổng tham mưu (thay thế bằng Cơ quan Binh sĩ - Truppendienst dưới sự chỉ huy của Hans von Seeckt). Hàng vạn sĩ quan giải ngũ rơi vào tình trạng thất nghiệp. Giới quân sự và công nghiệp Đức đã lập ra Văn phòng giới thiệu việc làm Đề chế cho cựu sĩ quan (Reichsarbeitsnachweis für Offiziere) để tuyển chọn "Sĩ quan kinh tế" sang các nước đang phát triển làm việc. Nhằm né tránh kiểm soát của Hội Quốc Liên, Đức bí mật hợp tác quân sự với Liên Xô thông qua công ty bình phong Gefu (Gesellschaft zur Förderung gewerblicher Unternehmungen), điều hành nhà máy Junkers sản xuất 600 máy bay/năm, nhà máy hóa chất Bersol sản xuất khí độc và cung cấp 300.000 quả đạn pháo/năm. Nhu cầu tìm kiếm thị trường xuất khẩu và giải quyết việc làm cho sĩ quan đã đưa giới công nghiệp Đức hướng tới thị trường Trung Quốc.
Về phía Trung Quốc, sau Cách mạng Tân Hợi (1911) và sự sụp đổ của chính quyền trung ương, đất nước bị xé nhỏ bởi các tập đoàn quân phiệt: phe Bắc Dương (Đoàn Kỳ Thụy, Phùng Quốc Chương, Tào Côn, Trương Tác Lâm) kiểm soát phương Bắc; phe Đường Kế Nghiêu, Lục Vinh Đình cát cứ phương Nam. Các thế lực này được ngoại bang hậu thuẫn: Anh và Mỹ ủng hộ phe Trực hệ (Ngô Bội Phu), trong khi Nhật Bản tài trợ cho phe Hoán hệ (Đoàn Kỳ Thụy) và Phụng hệ (Trương Tác Lâm). Tôn Trung Sơn nhiều lần vận động Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản và Canada nhưng đều bị từ chối do chính quyền Quảng Châu chưa có quân đội chính quy. Năm 1924, Tôn Trung Sơn cử Tiến sĩ Gustav Amann (kỹ sư hãng Siemens) sang Berlin ký hợp đồng thuê 3 sĩ quan không quân và 10 cố vấn bộ binh sang giảng dạy tại Trường Quân sự Hoàng Phố. Sau khi Tôn qua đời ngày 12/3/1925, Tưởng Giới Thạch nắm quyền lãnh đạo Quốc Dân Đảng. Mặc dù nhận viện trợ của Liên Xô và cố vấn Borodine để thực hiện Chiến dịch Bắc Phạt (tháng 7/1926), Tưởng Giới Thạch đã tiến hành thanh trừng và trục xuất toàn bộ cố vấn Liên Xô vào năm 1927. Tháng 11/1926, Tiến sĩ Chu Gia Hoa (Đại học Tôn Trung Sơn) gửi thư cho Giáo sư Conrad Matschoss (Chủ tịch Hội Kỹ sư Đức) đề nghị cử chuyên gia sang xây dựng xưởng vũ khí ở Quảng Châu, chính thức mở đầu quá trình hợp tác Đức - Trung.
Chương 2: Quan hệ giữa Đức và Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế (1926-1938)
Chương 2 phân tích sự hình thành và mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1926-1932: Năm 1927, Đại tá Max Bauer đến Quảng Châu với tư cách cố vấn quân sự kiêm đại lý độc quyền cho hãng máy bay Junkers và nhà sản xuất vũ khí Oerlikon. Bauer lập danh mục phát triển kinh tế cho Nam Kinh gồm 4 mũi nhọn: công nghiệp nặng, công nghiệp hóa chất, thông tin liên lạc và vận tải hàng không. Bauer thúc đẩy thành lập phái đoàn nghiên cứu của Nam Kinh sang thăm Krupp, Siemens, Julius Berger Konsortium (xây dựng đường sắt) và Beier-Ifa Vertrieb (thiết bị truyền thông). Tháng 9/1928, Bộ Thương mại Trung Quốc được thành lập tại Berlin do Tiến sĩ Dư Đại Duy (người tốt nghiệp Đại học Harvard năm 1922) điều hành. Tháng 3/1929, Bauer gặp Carl Duisberg (Chủ tịch tập đoàn I.G. Farben kiêm Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Đề chế Đức - Reichsverband der deutschen Industrie). Sau khi Bauer qua đời vì bệnh đậu mùa tại Thượng Hải ngày 6/5/1929, giới công nghiệp Đức thành lập China Studien Gesellschaft (Hiệp hội Nghiên cứu Trung Quốc) với mức phí tham gia 3.000 RM, thu hút 17 công ty công nghiệp và 13 ngân hàng lớn. Tháng 2/1931, liên doanh hàng không Eurasia giữa Bộ Truyền thông Trung Quốc và hãng Deutsche Lufthansa chính thức đi vào hoạt động. Khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) khiến sản xuất công nghiệp Đức giảm 8,4% (1930) và chỉ hoạt động 35,7% công suất vào năm 1933 với hơn 6 triệu người thất nghiệp, buộc các tập đoàn Đức đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc.
Giai đoạn 1933-1938: Sau khi Đảng Quốc xã lên nắm quyền năm 1933, Adolf Hitler ban hành chính sách kinh tế quân sự hóa, đẩy mạnh tái vũ trang và cắt đứt quan hệ với Liên Xô. Đức khai thác mạng lưới cộng đồng người Đức tại Viễn Đông (cuối thập niên 1920 có 357.480 người Đức và gốc Đức; năm 1937 ghi nhận 14.020 công dân Đức với 2.519 đảng viên Quốc xã). Tổ chức hải ngoại của Đảng Quốc xã (Auslands-Organisation - AO) thành lập chi nhánh đầu tiên tại Hán Khẩu tháng 2/1931 do Frau von Werder đứng đầu, sau đó chuyển giao cho Franz Hasenöhrl (Ủy viên điều hành Phòng Thương mại Đức tại Trung Quốc). Ngày 5/5/1933, Tưởng Giới Thạch triệu tập "Hội nghị Quốc dân" tại Nam Kinh tuyên bố áp dụng tư tưởng phát xít nhằm củng cố quyền lực tối cao và chống cộng.
Về nguyên liệu, Đức phụ thuộc sống còn vào khoáng sản Trung Quốc:
- Antimon: Cần thiết để làm cứng hợp kim chì chế tạo vỏ đạn và hạt nổ; Trung Quốc cung cấp hơn 60% sản lượng toàn cầu, tập trung tại tỉnh Hồ Nam.
- Vonfram: Kim loại chịu nhiệt độ nóng chảy cao nhất, dùng cắt thép, bọc giáp xe, chế tạo đạn xuyên giáp và chi tiết máy bay; Trung Quốc chiếm 37% tổng sản lượng tinh quặng vonfram thế giới giai đoạn 1913-1937 (vùng Nam Lĩnh gồm nam Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Hồ Nam cung cấp 70% sản lượng cả nước).
Tháng 5/1933, Hans von Seeckt hội đàm với Tưởng Giới Thạch tại Cô Lăng (Nam Xương), thống nhất cơ chế đổi tài nguyên lấy vũ khí. Tháng 1/1934, Bộ Tài chính và Bộ Quốc phòng Đức thành lập tập đoàn tư nhân HAPRO (Handelsgesellschaft für Industrielle Produkte) với số vốn 199.000 RM do Hans Klein đứng tên đại diện. Ngày 23/8/1934, Hiệp ước Trao đổi Nguyên liệu thô và Sản phẩm Nông nghiệp lấy Sản phẩm Công nghiệp được ký kết. Tháng 5/1935, hai nước nâng cấp cơ quan đại diện lên Đại sứ quán; Trình Thiên Phương được bổ nhiệm làm Đại sứ Trung Quốc đầu tiên tại Đức. HAPRO cấp hạn mức tín dụng 100 triệu RM cho Nam Kinh. Tháng 10/1935, Chủ nhiệm Ủy ban Tài nguyên Quốc gia Ông Văn Hạo chuyển 2.000 tấn vonfram đầu tiên sang Đức; năm 1936 Đức nhập khẩu 8.091 tấn vonfram từ Trung Quốc. Các tập đoàn Đức trực tiếp triển khai Kế hoạch 3 năm (1936) của Nam Kinh: Otto Wolff xây dựng các tuyến đường sắt chiến lược, Junkers xây nhà máy lắp ráp máy bay ném bom tại Hàng Châu, Siemens xây dựng bến cảng, I.G. Farben lập cơ sở sản xuất hóa chất.
| Chỉ tiêu / Sự kiện kinh tế |
Thời gian / Dữ liệu thực tế ghi nhận |
| Bồi thường chiến phí của Đức (Versailles) |
5 tỉ USD (1919-1921); nộp 1 tỉ RM đầu tiên ngày 31/8/1921 |
| Bồi thường của Đức cho Trung Quốc |
4.000 USD tiền mặt cùng 50% tài sản thanh lý qua Clearing House |
| Thâm hụt thương mại Trung Quốc - Đức |
Mức thâm hụt lên tới 22 triệu RM vào năm 1934 |
| Hạn mức tín dụng HAPRO cấp cho Nam Kinh |
100 triệu RM (hoàn trả bằng nguyên liệu khoáng sản thô) |
| Kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân (1933-1934) |
Đức nhập khẩu từ TQ: 46 triệu RM/năm; Đức xuất khẩu sang TQ: 74 triệu RM/năm |
| Khối lượng vonfram Trung Quốc xuất sang Đức |
2.000 tấn (tháng 10/1935); 8.091 tấn (năm 1936) |
| Tỷ trọng khoáng sản của Trung Quốc trên thế giới |
Hơn 60% antimon toàn cầu; 37% sản lượng tinh quặng vonfram (1913-1937) |
| Quy mô Hiệp hội Nghiên cứu Trung Quốc |
17 tập đoàn công nghiệp, 13 ngân hàng; hội phí 3.000 RM/thành viên |
| Vốn điều lệ pháp lý của tập đoàn HAPRO |
199.000 RM (đăng ký tại Tòa án Thương mại Greater Berlin) |
Chương 3: Quan hệ giữa Đức và Trung Quốc trong lĩnh vực quân sự (1926-1938)
Chương 3 trình bày vai trò của các phái bộ cố vấn quân sự Đức và tiến trình đổ vỡ quan hệ:
- Hoạt động cố vấn và tái tổ chức quân đội: Lần lượt các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp Đức giữ cương vị Trưởng phái bộ cố vấn tại Trung Quốc gồm Max Bauer (1927-1929), Hermann Kriebel (1929-1930), Georg Wetzell (1930-1934), Hans von Seeckt (1934-1935) và Alexander von Falkenhausen (1935-1938). Phái bộ tiến hành tổ chức lại quân đội Quốc Dân Đảng theo học thuyết quân sự Phổ - Đức, trực tiếp huấn luyện các sư đoàn bộ binh tinh nhuệ (như Sư đoàn 87, 88 và 36), trang bị vũ khí tiêu chuẩn Đức (mũ thép M35, súng trường Mauser, pháo Pak 35/36).
- Tham mưu chiến dịch và công sự phòng thủ: Các cố vấn Đức trực tiếp tham gia xây dựng kế hoạch tác chiến cho các chiến dịch quân sự của chính quyền Nam Kinh nhằm tiêu diệt các căn cứ Xô viết và vây quét lực lượng đối lập; đồng thời quy hoạch các phòng tuyến công sự kiên cố dọc vùng hạ lưu sông Dương Tử để chuẩn bị cho nguy cơ chiến tranh với Nhật Bản.
- Viện trợ quốc phòng và phản ứng quốc tế: Dù đối mặt với sự phản đối từ Hội Quốc Liên và những e ngại vi phạm Hòa ước Versailles dưới thời Cộng hòa Weimar, viện trợ quân sự và trang thiết bị cơ khí của Đức vẫn được chuyển giao liên tục sang Trung Quốc thông qua các hợp đồng kinh tế trung gian.
- Sự đổ vỡ trong quan hệ song phương (1937-1938): Tháng 7/1937, Chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ toàn diện. Sau khi ký Hiệp ước Chống Quốc tế Cộng sản với Nhật Bản (1936), giới lãnh đạo Đức Quốc xã chuyển dần lập trường từ trung lập sang ủng hộ Tokyo. Nhằm phục vụ chiến lược liên minh phe Trục chống Liên Xô tại châu Á, Berlin công nhận chính phủ bù nhìn Mãn Châu Quốc, đình chỉ xuất khẩu vũ khí sang Trung Quốc và chính thức ra lệnh triệu hồi toàn bộ phái bộ cố vấn quân sự của Alexander von Falkenhausen về nước vào năm 1938, khép lại hơn một thập kỷ hợp tác quân sự Đức - Trung.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả chính:
- Khóa luận làm sáng tỏ bản chất và cơ chế vận hành của mối quan hệ hợp tác đặc thù giữa Đức và Trung Hoa Dân Quốc giai đoạn 1926-1938. Hợp tác bắt đầu từ sáng kiến cá nhân của các cựu sĩ quan và doanh nghiệp tư nhân thời Weimar, sau đó được thể chế hóa thành chính sách cấp nhà nước thông qua cơ chế độc quyền của tập đoàn HAPRO thời Đức Quốc xã.
- Phân tích rõ tính chất bổ trợ kinh tế - quân sự song phương: Đức cung cấp vũ khí, công nghệ luyện kim, đường sắt và chuyên gia quân sự; đổi lại Trung Quốc cung ứng nguồn khoáng sản chiến lược không thể thay thế (vonfram, antimon) phục vụ trực tiếp cho chương trình tái vũ trang của Adolf Hitler.
- Luận giải nguyên nhân dẫn tới sự chấm dứt quan hệ vào năm 1938: bắt nguồn từ sự thay đổi ưu tiên chiến lược toàn cầu của Đức Quốc xã, lựa chọn liên minh quân sự với Nhật Bản để cô lập Liên Xô thay vì duy trì quan hệ đối tác kinh tế với chính quyền Tưởng Giới Thạch.
- Đóng góp học thuật:
- Khóa luận cung cấp một góc nhìn hệ thống về chính sách đối ngoại và kinh tế của Đức tại Viễn Đông giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến, chỉ ra rằng Trung Quốc từng là đối tác quan trọng của Berlin trước khi phe Trục Berlin - Tokyo được thiết lập.
- Công trình hệ thống hóa các dữ liệu lịch sử từ các nguồn tài liệu thứ cấp quốc tế và hồ sơ giải mật của CIA/OSS, làm phong phú thêm mảng nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế thế giới thế kỷ XX tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Tác giả chủ yếu dựa trên các tài liệu chuyên khảo tiếng Anh, các bài báo khoa học và tài liệu tình báo Hoa Kỳ đã giải mật; chưa thể tiếp cận và khai thác trực tiếp nguồn văn bản lưu trữ gốc bằng tiếng Đức tại Văn khố Liên bang Đức (Bundesarchiv) hoặc tài liệu lưu trữ của Quốc Dân Đảng bằng chữ Hán tại Đài Bắc và Nam Kinh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khai thác sâu hơn nhật ký công tác, thư từ ngoại giao của các cố vấn quân sự Đức (đặc biệt là Alexander von Falkenhausen) và hồ sơ lưu trữ chi tiết của tập đoàn HAPRO để làm rõ hơn hiệu quả thực chiến của các sư đoàn trang bị kiểu Đức trong giai đoạn đầu của cuộc Chiến tranh Trung - Nhật (1937-1938).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Đề tài là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho sinh viên, giảng viên và nhà nghiên cứu thuộc các ngành Lịch sử thế giới, Quan hệ quốc tế, Lịch sử ngoại giao và Lịch sử quân sự.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Phần phân tích cơ chế thương mại song phương và mô hình vận hành của tập đoàn HAPRO (Chương 2) là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu về kinh tế chiến tranh và thương mại tài nguyên chiến lược.
- Phần tư liệu về quá trình xây dựng, tái tổ chức quân đội Quốc Dân Đảng dưới sự hướng dẫn của các tướng lĩnh Đức (Chương 3) cung cấp dữ liệu cụ thể cho các đề tài nghiên cứu về lịch sử quân sự Trung Quốc hiện đại.
Câu hỏi thường gặp
1. Tập đoàn HAPRO là tổ chức gì và giữ vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế Đức - Trung?
HAPRO (Handelsgesellschaft für Industrielle Produkte) là tập đoàn tư nhân được Bộ Tài chính và Bộ Quốc phòng Đức thành lập vào tháng 1/1934 với số vốn 199.000 RM do Hans Klein đứng tên sở hữu. Tổ chức này đóng vai trò độc quyền điều phối mọi giao dịch công nghiệp và quân sự giữa Đức và chính phủ Nam Kinh, đồng thời quản lý hạn mức tín dụng 100 triệu RM để Trung Quốc đổi tài nguyên lấy máy móc, vũ khí.
2. Tại sao khoáng sản vonfram và antimon của Trung Quốc lại mang tính chất sống còn đối với Đức Quốc xã?
Antimon cần thiết để làm cứng hợp kim chì sản xuất vỏ đạn và hạt nổ, trong đó Trung Quốc nắm hơn 60% sản lượng toàn cầu. Vonfram có nhiệt độ nóng chảy cao nhất, là nguyên liệu tối quan trọng để chế tạo thép đặc chủng bọc giáp xe lửa, vỏ máy bay, đạn xuyên giáp và dao cắt công nghiệp. Do Đức không có mỏ tự nhiên và bị cô lập nguồn cung, vonfram Trung Quốc (chiếm 37% sản lượng thế giới giai đoạn 1913-1937) là điều kiện bắt buộc để Đức thực hiện tái vũ trang.
3. Ai là cố vấn quân sự Đức đầu tiên đến Trung Quốc và đã có đóng góp gì?
Đại tá Max Bauer là cố vấn quân sự Đức đầu tiên đến Quảng Châu vào năm 1927. Ông vừa làm cố vấn cho Tưởng Giới Thạch vừa làm đại lý độc quyền cho các hãng Junkers và Oerlikon, đề xuất 4 mũi nhọn kinh tế cho Nam Kinh và kết nối các tập đoàn công nghiệp lớn của Đức (Krupp, Siemens, I.G. Farben) với chính quyền Trung Quốc trước khi qua đời vì bệnh đậu mùa ngày 6/5/1929.
4. Nguyên nhân trực tiếp nào dẫn tới việc Đức Quốc xã đóng băng quan hệ ngoại giao với Trung Quốc năm 1938?
Khi Chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ năm 1937, Đức Quốc xã quyết định liên minh chiến lược với Nhật Bản theo Hiệp ước Chống Quốc tế Cộng sản nhằm hình thành thế bao vây Liên Xô. Do Nhật Bản phản đối sự hợp tác quân sự giữa Đức và Nam Kinh, chính quyền Berlin đã quyết định cắt viện trợ vũ khí, công nhận Mãn Châu Quốc và triệu hồi toàn bộ cố vấn quân sự về nước vào năm 1938.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Hậu Toàn đã tái hiện toàn diện tiến trình thiết lập, mở rộng và chấm dứt mối quan hệ kinh tế - quân sự giữa Đức và Trung Hoa Dân Quốc giai đoạn 1926-1938. Nghiên cứu chứng minh sự gắn kết song phương xuất phát từ nhu cầu bổ trợ lẫn nhau giữa công nghệ, vũ khí Đức và nguồn tài nguyên khoáng sản chiến lược của Trung Quốc thông qua các cơ chế đặc thù như phái bộ cố vấn quân sự và tập đoàn HAPRO. Công trình cũng luận giải sâu sắc tính chất thực dụng trong chính sách đối ngoại của Đức Quốc xã, dẫn tới quyết định đóng băng hoàn toàn quan hệ với Trung Quốc vào năm 1938 để chuyển sang liên minh phe Trục với Nhật Bản.