CHƯƠNG 1: CÁC YEU TO DAN TỚI THIẾT LAP QUAN HỆ GIỮA ĐỨC VÀ TRUNG QUOC TRONG LĨNH VỰC KINH TE, QUAN SỰ TỪ NAM 1926 DEN NAM 1938 1. Tinh hinh kinh té, quan sự của Dire sau Hòa ước Versailles (1919-1926) 1. Kinh té Hòa ước Versailles đã giáng cho nên kinh tế Đức một đòn nặng nề khi các nước thắng trận đã định giá cho những bôi thường mà Đức phải chỉ tra tới 5 ti USD trong khoảng thời gian từ năm 1919 đến 1921 và nếu không thé trả bằng tiền mặt thì có thể nộp bang hiện vật như: than, tàu, gỗ, gia súc. dé thay cho số tiền bồi thường không 16 (Shirer, 2018, tr.
Nếu xét đến thời hạn tra khoản bồi thường mà các quốc gia thắng trận qui định, với một quốc gia như Đức vừa trải qua cuộc chiến tranh, số tiền bồi thường đề cập vượt quá khả năng tài chính và kết hợp với sự tàn phá của cuộc chiến đã dẫn đến cạn kiệt tài nguyên quốc gia. Điều này góp phan làm cho việc thanh toán các khoản bồi thường sau khi một dé quốc thắt bại trong cuộc chiến trở nên khó khăn va không thé hoàn toàn thực hiện trong thời gian ngắn như vậy. Vào ngày 31/8/1921, nước Đức đã nộp bồi thường 1 tỉ RM đầu tiên cho các nước thắng trận và sự kiện nảy cũng chính thức kéo cho một quốc gia từng là dé quốc một thời khắp châu Âu rơi vào cơn hoảng loạn tài chính kinh tế von đã kiệt qué từ những năm sau khi cuộc Đại chiến kết thúc. Tuy nhiên, những có gang của Đức trong việc trả nợ cũng không thuyết phục được lãnh đạo Pháp rằng sẽ có thé trả hết được số nợ trong thời gian qui định nên khi chính phủ Đức yêu cầu hoãn trả tiền bồi thường thì nước Pháp đã ra lệnh cho quân Pháp đánh chiếm vùng công nghiệp Ruhr vào 12/1/1923, nơi được xem như mạch sống của nên kinh tế Đức khi cung ứng tới 4/5 sản lượng than và thép của đất nước, dé bù vào khoảng chiến phí mà Đức không thé chi trả (Shirer, 2018, tr.
Hậu qua của sự chiếm đóng vùng Ruhr do quân đội Pháp thực hiện đã diễn ra ngay lập tức khi ma ngay trong tháng 1 năm 1923 thì tỉ lệ hoi xuất còn 18.000 RM 'đổi 1 RM: là tên kí hiệu của Reichsmark, đơn vị tiễn tệ của Đức từ năm 1924 đến năm 1948, 10 USD và đến ngày 1 tháng 7 xuống đến 160.000 RM, đỉnh điểm nhất là thang 8 đã ghi nhận tới một mức độ khủng khiếp là 4 ti đồng RM chi đôi được | USD, cho đến những tháng sau đã tăng một cách phi mã mắt kiểu soát lên tới con số hàng nghìn tỉ đồng (Shirer, 2018, tr. Trong lúc người dân Đức phải gồng mình trả ng, chính quyền Berlin còn phải nhượng lại các thuộc địa mà họ chiếm đóng được trước chiến tranh cho các quốc gia trong phe Hiệp ước và ở vùng Viễn Đông, một noi mà các thuộc dia của Đức đa phan nằm ở Trung Quốc đã chuyền sang lại cho Nhật Bản theo Điều 156 và 159 vẻ việc chuyển giao bán đảo Sơn Đông đành cho người Nhật như một thành quả thắng trận tại vùng châu Á-Thái Bình Dương (Bereb, 2005, tr. Từ sự chuyên giao bán đảo Sơn Đông cho Nhật Bản thì lợi ích kinh tế của Đức tại Trung Quốc đã gần như bị biến mat chính thức đánh dau việc nước Đức mat đi các lợi ích kinh tế nhận được tại Sơn Đông, nơi được xem như tô giới đuy nhất của người Đức tại Trung Quốc. Ngoài ra, Đức còn phải bồi thưởng chiến phí cho Trung Quốc, một nước cũng thuộc phe thắng trận với các tài sản thuộc sở hữu của mình tại Trung Quốc sẽ được giải quyết “(hỏng qua hệ thong Clearing House được thiết lập theo Điệu 296” (Ellis, 1929, tr.
Cùng với tuyên bố của Bộ trường Ngoại giao Trung Quốc Yến Huệ Thanh rằng: Về việc bôi thường các tốn thất chiến tranh, Đức cam kết trả trước một phần số tiên đó một làn, tương đương với một nửa số tiên thu được tử tài sản được thanh lý của Đức và một nửa tài sản của Đức bị tịch thu nhưng chưa được thanh lý, số tiền này cuối cùng sẽ được thỏa thuận, bao gồm 4.000 USD tiền mặt.10) Với những khoản chiến phí bồi thường không 16 mà Đức phải trả cho Trung Quốc cùng với những lợi ích kinh tế đặc biệt mà Đức có được tại Sơn Đông cũng phải chuyên nhượng lại cho Nhật. Khiến cho chính phủ Đức không còn hưởng những quyền lợi như các cường quốc khác tại Trung Quốc, cùng lúc với việc mat đi ảnh hưởng kinh tế cũng làm những công ty Đức phải dan dan rút lui khỏi Trung Quốc vì thay đã không còn các lợi ích nào đáng kẻ đề tiếp tục ở lại. 11 Bản Hòa ước Versailles quá khắc nghiệt đối với các nước Đức thua trận, được quy trách nhiệm đã gây ra cuộc Đại chiến thế giới. Riêng với bản thân nước Đức thua trận, Hòa ước Versailles đã lay đi “1⁄9 đất dai, gan 1/12 dân số, 1/3 mỏ sắt, gan 1⁄3 mo than, 2/3 sản lượng gang, gan 1⁄3 sản lượng thép va 1/7 điện tích trong trot” (Nguyễn Anh Thái.
Vào khoảng thời gian sau, khi chế độ cộng hòa Weimar non trẻ dan được ôn định cũng đã tạm thời khiến cho nước Đức vượt qua cơn khủng hoảng kinh tế nhờ sự giúp đỡ tài chính của Hoa Ki và Anh đẻ hỗ trợ khắc phục tình trạng hỗn loạn tài chính sau chiến tranh, góp phan giúp cho công nghiệp được khôi phục và phát trién trở lại vào năm 1923. Thẻ chế cộng hòa lan đầu xuất hiện tại Đức đã làm khơi day các cuộc biéu tình chồng lại bởi những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Ké cả các nhà lãnh đạo công nghiệp nặng của Đức — Krupp von Bohlen und Halbach, Walther Stinnes, Emil Kirdorf, và những người khác cũng không có thiện cảm với dân chủ (Kirby, 1984, tr. Tuy nhiên, các khoản hỗ trợ của Hoa Ki va Anh cũng không thực sự giúp ích cho nước Đức trong thời gian dài hạn và buộc cho những nhà công nghiệp hàng đầu phải lim ra một hướng đi mới nhằm giữ vững ôn định bằng việc tăng cường đầu tư cho các quốc gia ở bên ngoài vùng lãnh thô của mình.
Déi với giới công nghiệp Dức, Liên Xô là nơi thích hợp để đầu tư nên dưới sự hướng dẫn của Hans von Seeckt thì hàng loạt những công ty hàng đầu đã đến với quốc gia rộng lớn nhất thế giới đề thực hiện việc đầu tư của mình song song với các hoạt động bên phía quân đội. các đầu tư đảnh cho Liên Xô gồm có Hãng máy bay Junkers nhận được khoản trợ cấp 140 triệu RM dé xây dựng một nhà máy sản xuất máy bay ở Liên Xô, được phía Liên Xô ngụy trang dưới dạng "nhượng bộ kỹ thuật". Ngay sau đó, Krupp ký hợp đồng để được “nhượng bộ nông nghiệp” vả các công ty cla Hugo Stinnes va Otto Wolff cũng lam theo.20) 12 Sự đầu tư của giới công nghiệp Đức vào Liên Xô đã tăng lên đáng ké từ cudi năm 1922, khi các doanh nghiệp Đức đang hoạt động tại Nga được sáp nhập vào một công ty ngâm được chính phủ Đức tài trợ, công ty này cả trụ sở chính ở cả Berlin và Moscow. Tên của công ty là Gesellschaft zur Förderung gewerblicher Unternehmungen.
hay gọi tat là "Gefu". Công ty trước khi bị vạch tran là giả mạo vào năm 1926 thì đã giám sát hoạt động của nhà máy Junkers gần Moscow với sản lượng hang năm là 600 máy bay va động co; một công ty liên doanh Đức- Liên Xô tên là Besel, ở Trotsk, Samara, để sản xuất khí độc; và sản xuất 300.000 quả đạn pháo hàng năm tại các nhà máy ở Leningrad, Tula, Schlusselberg và Slatust (Kirby, 1984, tr. Thị trường của giới công nghiệp Đức không chỉ duy ở Liên Xô mà còn có ở các quốc gia nhỏ khác nằm 6 châu Âu như là Tây Ban Nha, Nam Tu, Bulgaria, Thô Nhĩ Kỳ đã tạo ra nguồn lãi. Tuy nhiên nhiêu đây vẫn là chưa đủ dé vực dậy nước Đức nên vẫn còn phải tìm kiểm thêm các thị trường khác.
Đúng lúc, sự tìm kiếm của Trung Quốc về một quốc gia có thé sẵn sang đầu tư cho mình đã thu hút sự chú ý của giới công nghiệp Đức đã mở ra một chương mới trong mỗi quan hệ Đức-Trung vốn đã bị tôn hại từ trước đó. Quân sự Hòa ước Versailles không chỉ tước đi một nền kinh tế vốn đã bị hủy diệt trong cuộc Đại chiến thé giới của người Đức mà bản Hòa ước bat bình đăng còn lay đi một thứ mà Đức vẫn luôn tự hào nhất vì nhờ có thứ này mà giúp cho để quốc Đức một thời có thê được xếp vào hàng các quốc gia hùng mạnh bậc nhất châu Âu. Thử đó chính là sức mạnh quân đội vượt bậc của họ, thứ đã reo giắc nỗi kinh hoàng cho các quốc gia khác trong cùng khu vực. Các quốc gia thắng trận do lo sợ sức mạnh quân đội của Dức sẽ trỗi dậy thêm một lần nữa và tái hiện lại một cuộc Đại chiến khác đề trả thù thì tat cả đều áp đặt lên quân đội Đức những điều khoản khắc nghiệt dé xé vụn quân đội Dức nhằm có thê dé bề kiểm soát.
Điều khoản của Hòa ước Versailles đã qui định: chỉ được giữ lại 100.000 bộ bình với vũ khí thông thường, không có không quân và trong thực tế không có hai quân (chỉ có một ham đội nhỏ) ” (Nguyễn Anh Thái, 2013, tr. 13 Việc hạn chế vũ trang ở mức 100.00 binh lính đã khiến cho phần đông các sĩ quan va binh lính rơi vào tinh cảnh buộc phải giải ngũ dé mà tuân tha theo bản Hòa ước. Điều này vô tình khiến cho xã hội và kinh tế Đức phải gánh thêm các khoản chỉ phí khác nhằm nuôi sống các binh lính vừa mới được giải ngũ đang trong diện thất nghiệp. Tuy nhiên, nền kinh tế Đức trước đây đã rơi vào sự hỗn loạn khi các công việc dan dan phải sa thải nhân viên cũng đây các binh sĩ phải tìm kiếm một công việc khác bên ngoài lãnh thô Đức dé mong có một công ăn việc làm, việc họ thường hay tìm kiếm nhất được gọi là cô van quân sự cho các quốc gia đang xung đột hoặc những quốc gia đang phát triên.
Chính việc này đã tạo cơ sở về sau cho sự khởi đầu của mối quan hệ Đức-Trung dựa vào các sĩ quan cô van. Quân đội Đức sau đợt giải ngũ qui mô lớn thì đến năm 1921 đã mang cho mình một cái tên mới là Reichswehr (Quân Phòng vệ Đề chế) có cơ số 100.