lời mở đầu “Great and Good Friend” bị triều đình Việt Nam cho là “bat kính" vì không nêu danh người nhận và cách xưng hỏ không hợp thức đối với một vị Hoang đế, cũng như không viết rd quốc hiệu Dai Nam nên bị trả lại. Hoàng dé Minh Mạng cũng từ chối cho Edmund Robert điện kiến. Phái đoàn Mỹ vẫn được tiếp đón với nghỉ thức trọng thể và yến tiệc long trong. Tuy nhiên, sự bang giao một lần nữa lại không thành chỉ vi một lý đo nghi thức.
Nguyễn Tri Phương và Lý Văn Phức được Minh Mang cử tiếp phái bộ Mỹ va trao thư hỏi 4m với lời lẽ vừa mềm móng vừa quyết liệt. “Quốc gia các ngải yêu cau xúc tiễn thương mại với chúng tôi. Chúng tôi khẳng định là khong 14 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Trần Nam Tiến phản déi quan hệ như vậy. Mặt khác các ngài chắc chắn phải thừa nhận những luật lệ hiện hành của nước chúng tôi.
Vì thé khi đến nước chúng tôi, tàu của các ngài phải đậu ở ngoài khơi Trà Sơn (Đà Nẵng) cho tiện và không thể làm nhà ở trên đất liền. Còn bây giờ thì phải rời bến. Thực chất của vấn dé bang giao thất bại xuất phát chính từ chính sách “bế quan tỏa cảng" với phương Tây của triều đình Minh Mạng. Nhung, với lòng nhan nại, phía Mỹ vẫn tiếp tục theo đuổi công cuộc bang giao song phương và Edmund Robert lại được cử tới Việt Nam một lần nữa vào năm 1836.
Rất tiếc cơ hội dam phán lại bất thành vì khi phái đoàn Việt Nam do Dao Trí Phú và Lê Bá Tú đến Đà Nẵng, thuyền trưởng Edmunt đang ốm “thập tử nhất sinh" chỉ cử viên thông ngôn tiếp đoàn. Việc thương thuyết không thành. Ngay ngảy hôm sau tau Mỹ đột ngột nhổ neo rời cảng Da Nẵng. Đến ngày 12-6-1836, Edmund Robert qua đời tại Macao vì bạo bệnh, lúc đó người ta mới biết nguyên nhân cho việc vội vã ra đi của tàu Peacock qua thư viên trưởng tàu này gửi cho Bộ trưởng Hải quân Pháp.
Thư nói rằng học phải ở lại 8 ngày tại vịnh Tourance, nhưng vì chứng bệnh quá nặng của ông Robert nên hoi không làm được gi ở đây cả và rời cảng ngày 21 tháng 5. Vậy là duyên may cho mối bang giao Việt - Mỹ thứ ba ở thế kỷ XIX vĩnh viễn chìm xuống đáy Thái Bình Dương. Đây chính là cơ hội thứ ba bất thành của mối bang giao song phương day trắc trở và có thẻ, là báo hiệu cho những “con bão tổ" đang kéo tới.3 Chuyển biến xấu trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ vào năm 1845 Sau những cơ hội giao thương hoà hiếu giữa hai nước bị bỏ lỡ, năm 1838. lãnh sự Mỹ Balestier lại thúc giục Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tiếp tục công việc vả một kế sách mới đã được manh nha.
Sự tan vỡ con đường ngoại giao hòa bình đã đẩy nước Mỹ liên kết với đồng minh phương Tây thi hành chính sách “ngoại giao pháo ham”. Gần một thập ký sau, năm 1845, không phải là những chiếc tàu buôn mà chiến thuyên USS Constitution do thuyền trưởng John Percival chỉ huy đã đến bờ biển Đà Nẵng nơi rat gan kinh đô Huế. Không mang theo một sứ mạng 15 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Trin Nam Tiến ngoại giao nào, ma sau khi đã nhận tiếp tế lương thực va nước ngọt, phía Mỹ đã lấy cớ đòi trả tự do cho một nha truyền giáo người Pháp, bat cóc một số con tin là quan lại Việt Nam, no súng thị uy rồi bỏ đi. Cho đến nay, chưa có một căn cứ nao để chứng minh rằng tiếng súng từ chiến ham “USS Constitution” được khai hoa từ Washington hay chi là một phản ứng tự phát của một viên thuyén trưởng nhiễm nặng tính cách giang hò miền Viễn Tây.
Còn chính phủ Hoa Ky thi tìm mọi cách hàn gắn sự để vờ. Cụ thể, ngày 16-8-1849, Ngoại trưởng J. Dayton yêu cầu đặc sử của minh ở khu vực Đông Nam A là Balestier chuyển cho phía Việt Nam thông điệp mong muốn ký được một hiệp ước hữu nghị và thương mại và khẳng định rằng Hoa Ky không có một thuộc địa nao ở khu vực này như Anh, Ha Lan, Tây Ban Nha, Bỏ Dao Nha, Pháp và Chính phủ Hoa Ky mong muốn hoà bình hơn là chiến tranh Tổng thống Z. Taylor còn viết một bức thư tới vua Ty Đức dé xin lỗi hành động của viên thuyền trưởng Percival mà tổng thống “mdi nghe được gan đây".
Nhưng, dường như mọi sự đã an bài, vua Tự Đức vừa bị choáng váng bởi vu tau chiến Pháp đo Rigault de Genouilly lặp lại việc làm của tàu chiến Mỹ cũng trên cửa biển Đà Nẵng vào năm 1847 nên mọi cố gắng gây dựng mối giao hảo Mỹ - Việt trở nên vô ích. Vậy là những chuyến đi đầu tiên của các nhà ngoại giao đại điện cho chính quyển Hoa Kỳ nhằm thiết lập quan hệ thương mại, và xa hơn đó là mở đường cho quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam từ những năm dau thé kỷ XIX cho đến nửa thế ky sau của nhà cam quyền Hoa Ky vẫn không đạt được những ý muốn như đã kì vọng mong mỏi. Có thể thấy không phải Hoa Kỳ thiếu sự nễ lực và chân thành, bởi họ đã rất kiên tri theo đuổi va đã hao tốn khá nhiều sau những chuyến đi ngoại giao như thế. Vậy có phải chăng vương triéu Việt Nam đã quá đa nghỉ va khắt khe trong những mối quan hệ với các quốc gia phương Tay, trong đó có Hoa Ky?.
Có phải chăng sự không hiểu nhau và cả những lo lắng nghỉ kị thái quá từ phía Việt Nam đã giết chết một mối quan hệ lẽ ra cần được suy tính nhiều hơn là việc trưng ra “một cánh cửa đóng? Bài học trước mắt chính là sự kiện chiến ham “USS Constitution” của Hoa Ky trở thành chiến ham phương Tây dau tiên nỗ súng vào nước ta, trước khi thực dan 16 Khoả luận tốt nghiệp GVHD: Trần Nam Tiến Pháp gây han hai năm sau đó (1847) và tiến hành xâm luge Việt Nam vào năm 1858. Nha sử học người Pháp Jean Chesnaux thi danh giá rằng đây là “hành động can thiệp quan sự đầu tiên chong Việt Nam của một chiến ham Hoa Biết đâu, nếu điểm khởi đầu này không cứng nhắc đóng kín mà được triều đình Việt Nam xử lý khéo léo và uyén chuyển hơn, nếu những cơ hội thiết lập quan hệ ngoại giao được trân trọng như chính giá trị của nó thì hẳn là, lịch sử quan hệ giữa Hoa Kỷ và Việt Nam sẽ được viết bằng những nét màu tươi sáng hơn, hoặc ít ra sẽ không xảy ra việc chiến ham chiến ham “USS Constitution” của Hoa Ky né súng vào Việt Nam. Xa hơn nữa, hơn một thé kỷ sau, sẽ không có nỗi đau chiến tranh, không có nỗi đau chia cắt dan tộc. Nhung, lịch sử thi mãi là một điều vượt quá sự can thiệp của con người, chi đọng lại trong những trang sử buôn, là một sự hồi tiếc.
Quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam từ cuối thé ky XIX đến đầu chiến tranh thế giới thứ hai 1. Sự phát triển của Hoa Kỳ trong những năm đầu thế ky XX Đến cuối thé kỷ XIX, đầu thế ky XX Hoa Ky đã trở thành một cường quốc kinh tế với sức mạnh vượt ra khỏi Tân thế giới. Nhung do là “rồng” mới nỗi, nên di hùng mạnh vẻ kinh tế nhưng vị thế và sức ảnh hưởng của Hoa Kỳ vẫn không thể so sánh với các quốc gia thuộc Cựu thế giới. Với sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thé sau cuộc nội chiến năm 1865, với những nén tảng khoa học — kỹ thuật phát triển là tiền dé cho hàng loạt các phát kiến quan trọng của nước Mỹ, những cuộc cách mạng trong cả nông và công nghiệp.
nước Mỹ đã bước lên chính trường quốc tế bằng sức mạnh kinh tế vượt bậc và vững mạnh. Những tính toán trong quan hệ đối ngoại của Hoa Ky cũng vi thế mà trở nên sắc nét và mang tính “hiểu chiến" hơn. Cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha nổ ra năm 1898 với thắng lợi nghiêng vẻ phía Mỹ; sự can dự của Mỹ vao Colombia din đến sự ra đời của quốc gia ly khai Panama; vai trò chủ chốt của Mỹ trong quan hệ hợp tác giữa 17 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Trần Nam Tiến các nước châu Mỹ [2, VIII, 217]. Với những hành động chính sách quyết liệt và táo bạo mang hơi hướng của chủ nghĩa bành trướng, Hoa Ky đã dan khẳng định được vị the của mình trẻn trường quốc tế như nhận định: "Những thập niên cudt thé kỷ XIX là giai đoạn bành trưởng dé quốc của Mỹ, khi nó mở rộng ảnh hướng, và có khi mở rộng cả lãnh thỏ.
trên những khu vực rai rác khắp Đại Tay Dương. Thải Bình Dương và Trung Mỹ" (2, Vill, 212]. Tai châu A, với chỗ đứng mới tại Philippines - kết quả có được sau cuộc chiến với Tây Ban Nha và khẳng định vị trí vững chắc tại Hawaii vào đầu thế ky XX, Mỹ rất hy vọng và toan tính lớn trong việc buôn bán với Trung Quốc - nơi chứa đựng "những triển vọng tot dep cho đất nước, cũng như lợi nhuận và quyền lực trong cái dé quốc tự cho là trung tâm ấy" [3, 228]. Trung Quốc là một thị trường không lồ, một bản tiệc ma bat cứ đế quốc nào cũng thèm muốn.
Song, đợi cho đến khi Mỹ có thực lực để hướng đến Trung Quéc thi quả là muộn màng so với các nước dé quốc “lão làng” khác. Trong khi đó, từ khi Nhật Bàn đánh bại Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895), các nước đế quốc phương Tây đã giành được các căn cứ hải quân, thuê lãnh thé và thiết lập các phạm vi ảnh hưởng - các “tô giới” riêng. Những nước nay cũng đã chiếm được các độc quyền buôn bán cũng như sự nhượng bộ của chính quyển Trung Quốc trong việc xây dựng đường sắt và phát triển khai thác mỏ. Lo sợ những “pham vi ảnh hưởng” ở Trung Quốc của các nước châu Âu sẽ din dan trở thành những thuộc địa thực sự, nhưng quyền lợi thương mại của Hoa Ky sẽ bị loại ra ngoài, Hoa Kỳ đã thi hành một chính sách ngăn chặn nguy cơ nói trên bằng việc ban bố một chính sách ngoại giao mới.
Tháng 9-1899, nước Mỹ đưa ra chính sách “Open Door”, chính thức kêu gọi các nước dé quốc cùng thực hiện "chính sách mở cửa" đối với Trung Quốc. Có vẻ hơi phiến điện và “bénh vực” nước Mỹ khi G.