mở đầu cho Chiến tranh Lạnh và Hoa Kỳ coi đó là một cuộc đối đầu giữa hai phe Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa tư bản hay nền dân chủ. Rất nhanh sau đó, Hoa Kỳ và quân đội Liên Hợp quốc đã thay mặt cho Hàn Quốc và phớt lờ đến sự cảnh báo của Trung Quốc khi vượt qua đường ranh giới 38 và xâm chiếm thủ đô Bình Nhưỡng của CHDCND Triều Tiên. Chính điều này đã dẫn đến việc Trung Quốc chính thức tham chiến để hỗ trợ quân đội CHDCND Triều Tiên, Chủ tịch Mao Trạch Đông của Trung Quốc đã gửi “Chí nguyện quân” vượt sông Áp Lục (Aprokkang) để tiến hành cuộc phản công và đẩy lui lực lượng Mỹ và đồng minh trở lại vĩ tuyến 38. Chiến 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tranh kết thúc vào năm 1953 với một cuộc đình chiến nhưng về mặt kỹ thuật, Bắc và Nam Triều Tiên vẫn đang có chiến tranh với nhau.
Vai trò của Ấn Độ trong chiến tranh Triều Tiên, lý do Ấn Độ can dự vào cuộc chiến tranh hai miền Triều Tiên xuất phát từ sự lo ngại của Thủ tướng Jawaharlal Nehru về cuộc xung đột này sẽ dẫn tới Thế chiến III và bom nguyên tử có thể được sử dụng (Xô Viết cũng đã phát triển loại bom này), điều này có thể kéo Ấn Độ vào cuộc chiến. Trung Quốc là láng giềng của Ấn Độ, vì thế nước này sợ một hiệu ứng “domino” về quân sự. Mặt khác, Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Nehru đã theo đuổi chính sách đối ngoại hòa bình, trung lập tích cực, luôn ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc trên thế giới nên Ấn Độ không thể đứng ngoài cuộc xung đột ở hai miền Triều Tiên. Sau khi kết thúc cuộc chiến, uy tín của Nehru đã được nâng cao, củng cố hình ảnh của ông với tư cách một chính khách hàng đầu thế giới.
Trong suốt quãng đời còn lại, không có cuộc thảo luận toàn cầu nào trên thế giới có thể xảy ra mà không có sự tham gia của ông. Tờ New York Times tuyên bố rằng cuộc đấu tranh cho châu Á “có thể thành công hay thất bại đều nằm trong suy nghĩ của một người – đó là Jawaharlal Nehru” (Nguyên văn: The New York Times declared that the struggle for Asia “could be won or lost in the mind of one man – Jawaharlal Nehru”) [29]. Ấn Độ sớm trở thành một trong những quốc gia hỗ trợ chính cho Hàn Quốc, đồng thời cố gắng trấn an tất cả các bên bằng cách làm trung gian giải quyết vấn đề giữa tất cả các bên. Ấn Độ thay vì gửi quân đội theo yêu cầu của Liên Hiệp Quốc đã cử sư đoàn Quân y số 60 sang Hàn Quốc như một cử chỉ nhân đạo, các dịch vụ y tế của Ấn Độ vẫn được cả hai bên CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc nhớ đến [56].
Ngoài ra, Ấn Độ còn giữ vai trò chủ tịch Ủy ban Trung lập về vấn đề Hồi hương của Liên Hợp Quốc (NNRC) nơi sẽ xử lý các tù nhân chiến tranh (PoWs) của cả hai bên và phỏng vấn họ để xác định xem họ muốn trở lại vùng đất nào. Đến khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc, Ấn Độ là nước tích cực đưa ra một giải pháp hòa bình về vấn đề thống nhất hai miền bán đảo Triều Tiên lên Liên Hợp Quốc và đã được chấp thuận vào ngày 27/07/1953 [10]; các bên tham chiến còn chấp nhận đề nghị của Ấn Độ về vấn đề 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tù binh trong chiến tranh để nhanh chóng đi đến một hiệp định đình chiến. Mặc dù vào giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, Ấn Độ đã không nhận được nhiều lợi ích mà còn bị chỉ trích từ tất cả các bên, đặc biệt là mối quan hệ với Hoa Kỳ xấu đi (vì không đứng về phía Mỹ) và Mỹ bắt đầu viện trợ quân sự cho Pakistan. Nhưng những đóng góp to lớn của Ấn Độ đối với Hàn Quốc trong chiến tranh Triều Tiên là không thể phủ nhận, chính vì vậy cho đến tận ngày này chính phủ Hàn Quốc luôn treo quốc kỳ của Ấn Độ trước Đài tưởng niệm Chiến tranh ở thủ đô Seoul.
Từ năm 1953, quan hệ giữa Ấn Độ và Hàn Quốc bắt đầu được xây dựng và phát triển dù ban đầu cả bên đều có sự hoài nghi lẫn nhau. Về phía Ấn Độ, chính quyền Thủ tướng Nehru thực hiện đường lối Không Liên kết (NAM) chống lại các nước phương Tây, phê phán việc Hàn Quốc gửi quân đội đến hỗ trợ Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam vào thập niên 1960. Còn Hàn Quốc đã thực hiện đường lối đối ngoại khá giống với Học thuyết Hallstein của Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức) từ sau năm 1955, tức là chủ trương không quan hệ với bất kỳ quốc gia nào công nhận CHDCND Triều Tiên. Chính vì vậy, Hàn Quốc có một cái nhìn không mấy thiện cảm về Ấn Độ khi xem đây là một quốc gia thân khối các nước XHCN và luôn tỏ thái độ “dè chừng” trước chính sách ngoại giao song song của chính phủ Ấn Độ đối với hai miền Triều Tiên.
Tuy vậy, việc Trung Quốc đã có những hành động gây hấn và tranh chấp với các quốc gia láng giềng đã khiến hai nước xích lại gần nhau. Ngoài ra, việc Ấn Độ thực hiện một đường lối ngoại giao trung lập trong quan hệ giữa hai miền Triều Tiên nên Hàn Quốc muốn tranh thủ tầm ảnh hưởng của Ấn Độ trong khu vực để giải quyết vấn đề bán đảo Triều Tiên. Dấu mốc đầu tiên trong quan hệ ngoại giao song phương là sự kiện hai nước ký Hiệp định thiết lập quan hệ Lãnh sự và trao đổi đại diện ở cấp độ Tổng lãnh sự vào năm 1962. Tiếp đó, lần lượt Tổng lãnh sự quán của Ấn Độ và Hàn Quốc đã được thành lập ở thủ đô Seoul và thủ đô New Delhi vào năm 1968.
Sau hàng loạt các cuộc trao đổi tiếp xúc, phía Hàn Quốc có các chuyến thăm chính thức Ấn Độ của Bộ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Kim Yong-sik năm 1971 và chuyến đi của Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Chung Il Kwon năm 1973; phía Ấn Độ có chuyến thăm Hàn Quốc của phái đoàn Nghị viện Ấn Độ dẫn đầu là Tiến sĩ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Dhillon vào tháng 6/1973. Kết quả là hai chính phủ Ấn Độ và Hàn Quốc quyết định nâng cấp mối quan hệ ngoại giao song phương lên cấp đại sứ vào ngày 10 tháng 12 năm 1973. Giai đoạn từ 1973-1990 lại chứng kiến sự “mờ nhạt” trong quan hệ hai nước, mặc dù Ấn Độ và Hàn Quốc vẫn thường xuyên có những chuyến thăm trao đổi cấp cao nhưng việc cả hai nước đều lâm vào thời kỳ biến động chính trị đã ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách đối ngoại của riêng từng nước; ngoài ra, vấn đề CHDCND Triều Tiên trở thành vướng mắc lớn trong quan hệ hai nước.
Tại Ấn Độ, Thủ tướng Indira Gandhi đã ban hành tình trạng khẩn trương trong nước vào tháng 6/1975, nhằm dập tắt các cuộc đình công, làn sóng biểu tình và bắt giữ các thủ lĩnh phe đối lập. Trong cuộc bầu cử ở Ấn Độ vào tháng 3/1977, Thủ tướng I. Gandhi đã từ chức sau khi thất bại nặng nề trước đối thủ Morarji Desai thuộc Đảng Janata. Kể từ thời Thủ tướng Morarji Desai (1977-1980), đến Chandra Shekhar (1990-1991), Ấn Độ luôn giữ vững vai trò đứng đầu phong trào Không Liên kết nhằm chống lại các quốc gia phương Tây, đồng thời tăng cường hợp tác chặt chẽ với các nước thuộc khối Chủ nghĩa xã hội.
Những động thái đáng chú ý là việc tạo điều kiện cho Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (CHDCND Triều Tiên) gia nhập NAM vào tháng 8/1975 [15] và cải thiện mối quan hệ với quốc gia này thông qua chuyến viếng thăm Bình Nhưỡng của Thư ký Bộ Nội vụ phụ trách đối ngoại Ấn Độ khu vực Đông Á, H. Shri Eric Gonsalves vào tháng 6/1980. Còn tại Hàn Quốc, chính sách phản dân chủ của chính quyền Tổng thống Park Chung Hee đã dấy lên phong trào chống đối chính phủ mạnh mẽ của mọi tầng lớp nhân dân, đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng này là vụ ám sát Tổng thống Park Chung Hee vào ngày 26/10/1979. Tổng thống Chun Doo- Hwan lên nhận chức vào năm 1980 đã tiếp tục thực hiện chính sách thân Hoa Kỳ và các nước phương Tây, tập trung ổn định tình hình chính trị trong nước và tạm hoãn việc phát triển quan hệ với Ấn Độ, ngoài ra Hàn Quốc tỏ thái độ không hài lòng khi Ấn Độ cho CHDCND Triều Tiên trở thành thành viên của NAM tại hội nghị ở Lima, Peru vào tháng 8/1975.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phải đến giữa thập niên 1980, hợp tác chính trị giữa hai nước bắt đầu có những tín hiệu tích cực thông qua các chuyến thăm cấp cao giữa lãnh đạo hai nước về việc trao đổi, thảo luận các vấn đề song phương, tình hình khu vực và thế giới. Sự kiện đáng chú ý là Bộ trưởng ngoại giao Narasimha Rao đến thăm Seoul vào tháng 5/1983, nhằm tìm kiếm sự hợp tác về kinh tế, đồng thời có lời mời Tổng thống Hàn Quốc sang thăm Ấn Độ. Mặc dù Tổng thống Chun Doo-hwan đã nhận lời và lên lịch dự kiến sẽ thăm Ấn Độ từ ngày 11 đến 14/10/1983 trong chuyến công du 18 ngày tới 5 quốc gia (Myanmar, Sri Lanka, Australia, New Zealand và Ấn Độ) nhưng đã phải hủy chuyến đi vì vụ đánh bom kinh hoàng ở thủ đô Rangoon, Myanmar vào ngày 9/10 do 3 điệp viên CHDCND Triều Tiên thực hiện nhằm ám sát Tổng thống Chun. Thời gian từ năm 1991-2000 đánh dấu một bước tiến lớn trong quan hệ song phương.
Về phía Ấn Độ, song song với việc cải cách toàn diện nền kinh tế vào năm 1991, Thủ tướng Narashimha Rao còn tiến hành thay đổi chính sách đối ngoại thông qua việc đề ra chính sách “hướng Đông” với trọng tâm đẩy mạnh hợp tác giữa Ấn Độ với các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, và Hàn Quốc sẽ là một trong những trọng tâm trong giai đoạn hai của chính sách ngoại giao này. Ngay trong chuyến thăm Hàn Quốc vào năm 1993 của Thủ tướng Rao đã khẳng định trên tờ Diplomacy của Hàn Quốc rằng“sự kết thúc của chiến tranh Lạnh đã dẫn đến bối cảnh quốc tế và những triển vọng mới sẽ cung cấp những cơ hội hợp tác cho Ấn Độ và Hàn Quốc trong kỷ nguyên mới” [17;97].