Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN HỆ VIỆT NAM - THÁI LAN 1. Cơ sở tự nhiên, kinh tế, văn hóa và tộc người Mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan vốn được hình thành từ rất sớm trong lịch sử thông qua những cuộc tiếp xúc buôn bán đầu tiên giữa hai bên (thế kỉ XIII) và được kéo dài qua nhiều giai đoạn lịch sử [71]. “Mối quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan không chỉ vì việc quan tâm đầy đủ đến quan hệ láng giềng là cần thiết và vô cùng quan trọng. Có sự hội nhập tốt trong khu vực mới có điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập với thế giới mà ở cả hai quốc gia đều tìm thấy được những điểm tương đồng, lợi ích đôi bên và tiếng nói chung từ trong quá khứ đến thời điểm hiện tại” [71].
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Việt Nam và Thái Lan đều là hai quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á và có vị trí địa lý khá gần nhau. Hơn nữa, giữa hai nước lại có các đường giao thông tự nhiên tương đối thuận lợi như sông Mê Công và đường biển ven bờ. Đó là một trong những điều kiện thuận lợi để mối quan hệ này được hình thành trong lịch sử cả về mặt giữa nhân dân với nhân dân và giữa nhà nước với nhà nước, cả về quan hệ kinh tế lẫn quan hệ về chính trị. Tình gần gũi này được thể hiện trong các thư từ qua lại giữa vua Xiêm và chúa Nguyễn, đều thấy sự xuất hiện những lần ghi nhận về tính chất “láng giềng” hay “hàng xóm” giữa hai nước.
Trong một bức thư vua Xiêm gửi cho chúa Nguyễn đã từng viết rằng “Nước An Nam và nước Xiêm cùng ở về một dải đường biển, cùng chung một trời. Hai nước tuy xa cách nhau nhưng cũng như đứng một đất nước” [36, tr. Điều kiện tự nhiên Về địa hình: Thái Lan và Việt Nam cùng có kiến tạo địa lý tương đối giống nhau, cùng có độ dốc thoai thoải ra phía biển, có địa hình đa dạng gồm các vùng rừng núi, cao nguyên và đồng bằng, trong đó đồng bằng là chủ yếu. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về khí hậu: Việt Nam và Thái Lan đều nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuần lợi cho nghề trồng trọt.
Thời tiết nóng, mưa nhiều. Một năm có hai mùa: mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Về sông ngòi: Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc với khoảng 2360 con sông nhưng phải kể đến hai con sông lớn là sông Hồng và sông Cửu Long đã tạo nên những lưu vực lớn, những vựa lúa trù phú cho đất nước. Trong khi đó, những con sông lớn như Chao Phraya và Mê Công cũng đem lại khả năng thủy nông và nguồn thủy lợi phong phú cho Thái Lan.
Về khoáng sản: Ở Việt Nam, khoáng sản được phân bố ở nhiều nơi, khá phong phú và đa dạng như: than đá bôxít, thiếc, sắt, vàng, bạc, đồng, apatit,.Thái Lan cũng thuộc khu vực giàu tài nguyên, khoáng sản, đặc biệt là giàu vonphram, thiếc, ga tự nhiên, chì, thạch cao… Không những thế, hệ sinh thái của hai nước cũng có những điểm tương đồng. Đều có hệ sinh thái động thực vật phát triển phong phú, đa dạng về chủng loại, số lượng và chất lượng. Kinh tế, văn hóa Những yếu tố về địa hình và điều kiện tự nhiên đã quy định điểm giống nhau về hệ sinh thái và cơ cấu cây trồng khiến cho cơ cấu kinh tế của hai nước cũng có nét tương đồng. Đó là cơ cấu kinh tế đa dạng gồm nông, lâm, ngư nghiệp, chủ yếu là nông nghiệp lúa nước.
Do yếu tố địa lí và kinh tế, nền văn hóa cổ truyền của người Việt và người Thái đều mang đậm màu sắc nông nghiệp - nền văn hóa lúa nước. Hơn thế nữa, Việt Nam và Thái Lan đều nằm trong khu vực giao thoa của văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ trên nền văn hóa bản địa, nên cùng tiếp nhận giáo lý Phật giáo. Sau này, cùng chịu ảnh hưởng của nền văn minh phương Tây. Sự gần gũi và tương đồng về văn hóa giữa hai nước hiện diện trong suốt quá trình lịch sử, từ quá khứ đến hiện tại đã tạo cơ sở cho mối quan hệ giao lưu giữa cư dân hai nước trở nên gần gũi hiểu biết lẫn nhau, tạo điều kiện cần thiết để phát triển quan hệ và hạn chế những tranh chấp.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bên cạnh những nét tương đồng, mỗi nước lại có những nét văn hóa đặc sắc, hấp dẫn riêng. Nói đến Việt Nam, nhân dân Thái Lan vô cùng khâm phục một dân tộc anh hùng, bất khuất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, từ các thế lực phong kiến phương Bắc đến thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Cùng với đó là những nét ẩm thực độc đáo mang đặc trưng của từng vùng miền; các lễ hội truyền thống như Tết cổ truyền, lễ hội Đền Hùng, lễ hội chùa Hương, lễ hội chùa Bái Đính, hội Lồng Tồng,.; tà áo dài truyền thống của người Việt. Còn nhắc đến Thái Lan, nhân dân Việt Nam ấn tượng về một “Đất nước của áo cà sa vàng”, một đất nước tuyệt đại đa số dân chúng theo đạo Phật, với những ngôi chùa tháp nổi tiếng, những địa danh nổi tiếng thu hút hàng nghìn khách du lịch từ khắp thế giới đến thăm quan (Chiang Rai, Chiang Khong, Chiang Saen), với những lễ hội truyền thống như lễ hội Hoàng gia, Tết Thái Lan, lễ hội Khao Phansa.
Những sự khác biệt này tạo điều kiện cho nhân dân hai nước có thêm cơ hội tìm hiểu, khám phá những nét văn hóa độc đáo của nhau. Như vậy, cơ sở về kinh tế và văn hóa cũng góp phần xây dựng nên mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan với đặc trưng nền nông nghiệp lúa nước, từ đó cũng tạo nên những nét tương đồng về văn hóa, tạo điều kiện giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc. Quan hệ tộc người Sự gần gũi về mặt địa lý, tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa đã tạo nên mối quan hệ cộng đồng giữa hai nhà nước. Trong lịch sử, đã có nhiều cuộc thiên di của người Thái sang đất Việt và người Việt sang đất Thái.
Trước khi lập quốc trên phần đất Thái Lan ngày nay vào thế kỉ XIII, người Thái đã có một quá trình sinh sống lâu dài ở phía bắc Đông Dương và miền Nam Trung Quốc, cùng địa vực với tộc Bách Việt [40, tr. Quá trình tiến xuống phía Nam đã giúp họ hòa nhập dần với cư dân bản địa và các tộc người Việt. Từ thế kỉ VIII và nhất là trong đợt thiên di thế kỷ IX - X, người Thái đã di cư đến thượng nguồn sông Đà và hình thành những điểm tụ cư ở vùng Tây Bắc Việt Nam [36, tr. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngược lại, người Việt cũng thiên di sang Thái Lan từ lâu đời.
Lịch sử đã ghi nhận một số đợt di cư của người Việt đến Xiêm (Thái Lan). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng những nhóm người Việt đầu tiên định cư ở Ayuthaya từ thế kỉ XVII. Đến thời kì Thônburi (1767 - 1782), thời kỳ Băng Cốc (từ triều đại Rama I đến Rama III) đã hình thành một cộng đồng người Việt đông đảo ở Thái Lan [43, tr. 6], xuất hiện các “Làng Việt Nam” hay “Trại Việt Nam”.
Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 - 1914), chính sách bóc lột nặng nề của Pháp đã khiến hàng loạt người dân ở miền Bắc và miền Trung phải bỏ chạy sang Thái Lan. Thêm vào đó, sự thất bại của các phong trào yêu nước như Duy tân năm 1908, Xô viết Nghệ - Tĩnh 1930 - 1931 và những cuộc khởi nghĩa khác, nhiều người yêu nước Việt Nam đã sang Thái Lan tránh sự đàn áp của Pháp. Thái Lan cũng là địa bàn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, là nơi Nguyễn Ái Quốc đã dừng chân một thời gian để hoạt động cách mạng. Như vậy, từ đầu thế kỉ XX cho đến năm 1945, người Việt nhập cư vào Thái Lan mang cả màu sắc chính trị chứ không chỉ đơn thuần về kinh tế.
Trong những năm 1945 - 1946, diễn ra đợt di cư lớn nhất của người Việt vào vùng Đông Bắc Thái Lan. Theo số liệu thống kê của cảnh sát Thái Lan, số lượng người Việt di cư từ Lào và Campuchia sang Thái Lan giai đoạn 1945 - 1946 khoảng 46.700 người và khoảng 13.000 gia đình [43, tr. Chính sự thiên di đó đã tạo nên những giao thoa kinh tế, văn hóa, là sợi dây liên hệ giữa hai quốc gia và tạo cơ sở cho mối quan hệ kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội giữa hai nhà nước. Như vậy, với những nét tương đồng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa và vai trò của cộng đồng các tộc người ở mỗi nước đã tạo nên mối liên hệ giữa hai quốc gia và tạo sự gần gũi giữa hai cộng đồng.
Quan hệ Việt Nam - Thái Lan trước năm 2009 1. Giai đoạn trước năm 1954 Quan hệ Việt Nam - Thái Lan được hình thành từ rất sớm thông qua con đường buôn bán. Dưới vương triều Sukhothai (1238 - 1583), thương nhân 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xiêm đã vào cảng Vân Đồn để tiến hành trao đổi các sản phẩm có giá trị thương mại như gốm sứ và tơ lụa…Trên cơ sở các quan hệ về thương mại, quan hệ bang giao cũng được thiết lập thông qua những hoạt động trao đổi sứ giả [18, tr. Dưới thời Lý Cao Tông, vua Xiêm đã cử sứ thần sang Việt Nam để đặt quan hệ ngoại giao [33, tr.
Dưới thời Trần, thuyền buôn của nước Xiêm La đến Vân Đồn buôn bán, dâng các vật lạ. Thời Lê sơ, triều đình còn tuyên bố giảm một nửa thuế buôn bán cho thương nhân Xiêm. Mối quan hệ này được duy trì nhiều thế kỉ sau đó. Trong thời kì Trịnh - Nguyễn phân tranh đến thời kì Tây Sơn, quan hệ giữa Xiêm và Đại Việt chủ yếu diễn ra ở Đàng Trong.
Quan hệ Thái Lan và Việt Nam được xác lập chính thức từ những năm đầu thời kì Băng Cốc của Thái Lan (tương đương với thời kì Gia Long - Minh Mạng của Việt Nam những năm 1782 - 1833). Năm 1789 và 1793, khi Xiêm có nạn đói và yêu cầu được mua gạo, Nguyễn Ánh đã ra lệnh cho hơn 8.800 phương gạo (1 phương = 13 thăng hoặc 30 bát gạo gạt bằng miệng) hoặc ra lệnh bán gạo cho người Xiêm [36, tr.