Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tên "Quá trình hình thành Nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1949)" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử cận - hiện đại (mã số: 5.04), được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Liên Hương hoàn thành vào tháng 5 năm 2001 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Công trình được triển khai dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Nguyễn Quốc Hùng và Phó Giáo sư Nguyễn Văn Hàm.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng nước Đức nằm ở trung tâm châu Âu và là một trong những trung tâm văn hoá của nhân loại, nơi sản sinh ra nhiều nhà bác học, nhà tư tưởng và danh nhân văn hoá lớn như Karl Marx, Friedrich Liebknecht, Johann Wolfgang von Goethe, Friedrich Schiller hay Johann Sebastian Bach. Lịch sử nước Đức trong thế kỷ XX thể hiện sự tương phản sâu sắc giữa các mặt đối lập: tiến bộ và phản động, nhân đạo và bạo tàn, văn minh và dã man, phồn vinh và đổ nát. Thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới thứ hai (1945-1949) giữ vai trò quyết định đối với vận mệnh dân tộc Đức, đánh dấu sự tan rã của liên minh chống phát xít, khởi đầu mâu thuẫn đối kháng giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, đồng thời là cội nguồn cho sự ra đời đồng thời của hai nhà nước Đức. Tại Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử, đây là quốc gia có số lượng người sử dụng tiếng Đức lớn ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Mối quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Cộng hoà Liên bang Đức đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử và hệ thống chính trị Đức. Tuy nhiên, ngoại trừ một số bài báo và thông tin dịch ngắn, giới nghiên cứu trong nước hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về lịch sử nước Đức; nghiên cứu về Trung Âu và nước Đức vẫn là một "khoảng trống" lớn dẫn đến tình trạng thiếu hụt giáo trình, sách vở phục vụ đào tạo và nghiên cứu.
Nhằm giải quyết khoảng trống này, đề tài luận án xác định 3 yêu cầu cụ thể cần được giải quyết, đánh số theo đúng văn bản:
- Làm sáng tỏ hoàn cảnh lịch sử, các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến việc chia cắt nước Đức và sự hình thành đồng thời hai Nhà nước Đức sau Chiến tranh Thế giới thứ II, trong đó có Nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức.
- Nêu bật những yếu tố cơ bản (truyền thống và hiện đại) cấu thành nên hệ thống chính trị của Nhà nước CHLB Đức.
- Đánh giá sự ra đời của Nhà nước CHLB Đức trong bối cảnh lịch sử đương thời.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là toàn bộ quá trình hình thành Nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức từ tiền đề lịch sử, sự can thiệp của các cường quốc Đồng minh, quá trình phục hồi kinh tế - xã hội đến việc thiết lập các cơ sở pháp lý và thể chế nhà nước. Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn 1945-1949, mốc bắt đầu từ sự kiện phát xít Đức đầu hàng không điều kiện (tháng 5 năm 1945) đến khi Đạo luật Cơ bản được công bố và các cơ quan nhà nước CHLB Đức đi vào hoạt động (năm 1949). Phạm vi không gian bao trùm lãnh thổ nước Đức bại trận, các khu vực chiếm đóng quân sự của bốn cường quốc Đồng minh (Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô), trong đó trọng tâm đi sâu vào các bang và khu vực chiếm đóng phía Tây (khu vực Bizone, Trizone) – nơi trực tiếp hình thành nên CHLB Đức.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, tác giả ghi nhận tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử Đức tại Việt Nam. Trước thời điểm luận án hoàn thành, chưa có bất kỳ luận án tiến sĩ, luận văn cử nhân hay đề tài khoa học cấp nhà nước nào nghiên cứu riêng biệt về quá trình hình thành CHLB Đức giai đoạn 1945-1949. Nguồn tư liệu tiếng Việt chủ yếu là các chương mục mang tính đại cương trong giáo trình đại học hoặc các công trình nghiên cứu lịch sử ngoại giao, quan hệ quốc tế tổng quát:
- Giáo trình "Lịch sử thế giới hiện đại (1917-1995)" do Nguyễn Anh Thái chủ biên (NXB Giáo dục, 1998, tái bản 2000).
- Các giáo trình "Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới" và "Luật Hiến pháp các nước tư bản" của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (1998).
- Tài liệu dịch "Những bí ẩn của Chiến tranh Thế giới thứ II".
- Các công trình về chiến tranh và quan hệ quốc tế của các tác giả trong nước: cuốn "Chiến tranh Thế giới thứ II" (1985) và bài báo "Bài học lịch sử từ cuộc Chiến tranh thế giới thứ II (1939-1945)" (2000) của Giáo sư Nguyễn Huy Quý; cuốn "Thế giới trong 50 năm qua (1945-1995) và Thế giới trong 25 năm tới (1996-2020)" của cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch (1998); các công trình của Giáo sư Nguyễn Quốc Hùng gồm "F.Roosevelt và Chiến tranh Thế giới thứ II (1939-1945)" (1995), "Têhêran và cuộc gặp gỡ lần đầu tiên" (1991), "Quan hệ quốc tế thế kỷ XX" (2000); cuốn "Lịch sử quan hệ quốc tế (1870-1964)" của Đào Huy Ngọc (1996); cuốn "Tổ chức bộ máy nhà nước và cải cách hành chính ở CHLB Đức" do Thang Văn Phúc chủ biên (2000); cùng nghiên cứu của Phạm Giảng (1962), Lý Thực Cốc (1996), Nguyễn Trần Quế (1995).
Đối với tài liệu quốc tế, tác giả khảo cứu nguồn sử liệu đa chiều từ các nước tham chiến và chiếm đóng nước Đức, phân tích sự bất đồng sâu sắc về quan điểm giữa các học giả Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Tây Đức và Đông Đức. Tác giả đã trao đổi khoa học trực tiếp với Giáo sư Peter Steinbach (chuyên gia Lịch sử Đức hiện đại tại Đại học Tổng hợp Passau) vào năm 1991 và Giáo sư Rolf Steininger (Đại học Innsbruck, Áo) vào năm 1992 tại Hà Nội. Nguồn sử liệu tiếng Đức và tiếng Anh được khai thác bao gồm:
- Hồi ký của các nguyên thủ và chính khách trực tiếp tham gia sự kiện: Konrad Adenauer (Erinnerungen 1945-1953, Stuttgart 1965); Winston Churchill (Memoiren, Stuttgart 1954); Harry S. Truman (Memoiren, Stuttgart 1955); Iosif V. Stalin (Über den Grossen Vaterländischen Krieg der Sowjetunion, Berlin 1952); George F. Kennan (Memoiren eines Diplomaten, Stuttgart 1968); Lucius D. Clay (Entscheidung in Deutschland, Frankfurt/M 1950).
- Các bộ thông sử và chuyên khảo lịch sử Đức được xuất bản ở cả hai miền Đông và Tây Đức: "Deutsche Geschichte" của Giáo sư CHDC Đức Joachim Streisand (Đông Berlin, 1984); "Deutsche Geschichte 1945-1961" của Rolf Steininger (Frankfurt/M 1983); "Die doppelte Staatsgründung" của Christoph Klessmann (Göttingen, 1991); "Die Alliierten und die Teilung Deutschlands, Konflikt und Entscheidungen 1941-1948" của Hermann Graml (Frankfurt/M 1985); "Die Teilung der Welt 1941-1945" của Wilfried Loth (München 1985); "Westdeutschlands Weg zur Bundesrepublik 1945-1949" của Viện Lịch sử Đương đại (Institut für Zeitgeschichte München, 1976).
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là tiếp cận trực tiếp các nguồn văn kiện lưu trữ và công trình tiếng nước ngoài để phục dựng một cách khách quan, hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sử dẫn tới sự phân chia nước Đức và thành lập CHLB Đức dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu Việt Nam không chịu sự chi phối bởi quan điểm chính trị của các bên tham chiến hay các khối liên minh thời hậu chiến.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng lý luận chỉ đạo, tuân thủ nghiêm ngặt 3 nguyên tắc căn bản:
- Nguyên tắc tính đảng: Nhìn nhận, phân tích các sự kiện lịch sử trên lập trường giai cấp công nhân và quan điểm duy vật biện chứng, phân biệt rõ bản chất giai cấp của các lực lượng chính trị tham gia định hình trật tự thế giới sau chiến tranh.
- Nguyên tắc lịch sử: Đặt mọi biến cố, văn kiện pháp lý và quyết sách chính trị vào hoàn cảnh không gian, thời gian cụ thể của giai đoạn 1945-1949, liên hệ chặt chẽ với nguồn gốc lịch sử từ Đế chế II, Cộng hoà Weimar và Đế chế thứ III.
- Nguyên tắc tổng hợp và toàn diện: Xem xét tiến trình hình thành nhà nước trong mối quan hệ đa phương phức tạp giữa các cường quốc chiếm đóng, đồng thời kết hợp đồng bộ các khía cạnh quân sự, ngoại giao, kinh tế, đời sống xã hội và cơ sở pháp lý.
Về mặt thao tác thực tế, luận án thuần túy sử dụng hướng tiếp cận định tính của khoa học lịch sử. Phương pháp cốt lõi là phân tích sử liệu học (historico-critical method), triển khai theo hai hướng:
- Mở rộng tối đa các nguồn sử liệu bao gồm văn bản chữ viết (biên bản các hội nghị quốc tế, tuyên cáo quân sự, đạo luật, hiệp ước, bài phát biểu, nghị quyết đảng phái), tư liệu hình ảnh (ảnh tư liệu lưu trữ, áp-phích tuyên truyền), và hiện vật (phiếu mua lương thực, bảng khai lý lịch).
- Xây dựng kỹ thuật khai thác, đối chiếu và thẩm định độ tin cậy của các nguồn sử liệu gốc nhằm khắc phục các bình luận mang tính chủ quan hoặc thiên lệch chính trị trong hồi ký của các chính khách.
Bên cạnh đó, luận án kết hợp phương pháp hệ thống hoá để sắp xếp các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian và mối quan hệ nhân quả logic; phương pháp so sánh lịch sử để chỉ ra sự tương đồng và đối lập trong mục tiêu chiến lược của bốn cường quốc; phương pháp phân tích - tổng hợp để khái quát hóa bản chất thể chế chính trị của CHLB Đức. Toàn bộ nguồn tư liệu sơ cấp và thứ cấp bằng tiếng Đức được tác giả trực tiếp sưu tầm từ các chuyến khảo sát tại CHLB Đức và tự dịch thuật, xử lý sang tiếng Việt.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục của luận án gồm phần Mở đầu, 3 chương nội dung, Kết luận, Chú thích, Tài liệu tham khảo và 32 Phụ lục. Nội dung cụ thể từng chương được trình bày như sau:
Chương 1: Hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II đối với nước Đức và Hiệp ước Potsdam
Chương 1 tái hiện hoàn cảnh lịch sử của nước Đức sau khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phân tích nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự sụp đổ của chế độ phát xít và tình trạng kiệt quệ toàn diện của quốc gia bại trận.
Mục 1.1 đi sâu vào mối liên hệ giữa Đế chế III và cuộc chiến tranh. Sau Cách mạng tháng Mười Một năm 1918, Cộng hoà Weimar ra đời nhưng không đủ sức ngăn cản các thế lực phản động cực đoan. Ngày 30 tháng 01 năm 1933, Thống chế Paul von Hindenburg đưa Adolf Hitler lên làm Thủ tướng. Tận dụng vụ cháy Nhà Quốc hội ngày 27 tháng 02 năm 1933 và ban hành "Luật toàn quyền hành động", Hitler đã xóa bỏ hoàn toàn nền dân chủ nghị viện, thiết lập nền chuyên chế độc tài phát xít của liên minh tư bản độc quyền. Học thuyết phân biệt chủng tộc cực đoan, chủ nghĩa phục thù rửa "vết nhục Versailles" và tham vọng giành "không gian sinh tồn" (Lebensraum) đã đẩy nhân loại vào cuộc chiến tranh tàn khốc nhất lịch sử. Cuộc chiến kết thúc bằng sự đầu hàng không điều kiện của quân đội Đức ngày 08 tháng 05 năm 1945 tại Berlin-Karlshorst. Nước Đức bước vào giai đoạn được gọi là "thời điểm số không" (Stunde Null) - điểm mốc mọi giá trị vật thể và phi vật thể của chế độ cũ bị sụp đổ hoàn toàn, buộc xã hội Đức phải làm lại từ đầu.
Dưới đây là bảng tổng hợp các số liệu thực tế về hậu quả chiến tranh và điều kiện sống của nước Đức sau bại trận được tác giả trích xuất từ các tài liệu lưu trữ:
| Chỉ số / Lĩnh vực thống kê |
Số liệu / Tình trạng thực tế (1945 - 1948) |
Nguồn / Ghi chú trong văn bản |
| Thiệt hại nhân mạng của nước Đức |
8,3 triệu người chết |
Toàn bộ cuộc chiến |
| Dân thường mất nhà ở / Vô gia cư |
7,5 triệu người không có nhà ở |
Thống kê sau chiến tranh |
| Dân cư Đức phải di cư, sơ tán |
12 triệu người rời bỏ quê hương |
Tránh khủng bố và chiến tranh |
| Lãnh thổ bị cắt giảm (so với 1937) |
Mất 24% diện tích lãnh thổ |
Chuyển giao cho Ba Lan, Liên Xô |
| Quy mô đô thị bị ném bom |
131 thành phố, thị xã bị phá hủy |
Do không quân Mỹ - Anh thực hiện |
| Thương vong trận ném bom Dresden |
Ít nhất 35.000 người thiệt mạng |
Trận ném bom ngày 13-14/02/1945 |
| Thương vong trận ném bom Hamburg |
Gần 40.000 người thiệt mạng |
Không chiến của Đồng minh |
| Tỷ lệ nhà ở bị phá hủy tại Berlin |
Đại bộ phận nhà ở bị phá hủy |
1,5 triệu người vô gia cư đợt đầu |
| Tỷ lệ nhà ở bị phá hủy tại Hamburg |
53,5% tổng số nhà ở |
Số liệu thống kê sau chiến tranh |
| Tỷ lệ nhà ở bị phá hủy tại Köln |
70,0% tổng số nhà ở |
Khu vực công nghiệp miền Tây |
| Tỷ lệ nhà ở bị phá hủy tại Dortmund |
65,8% tổng số nhà ở |
Vùng công nghiệp than thép Ruhr |
| Mạng lưới đường bộ còn sử dụng được |
1.000 km trên tổng số 13.000 km |
Thời điểm tháng 5 năm 1945 |
| Sản lượng công nghiệp năm 1946 |
Bằng 1/4 (25%) mức sản xuất năm 1936 |
Công nghiệp rơi vào tê liệt |
| Tổng thu nhập quốc nội năm 1946 |
32 tỷ Reichsmark (RM) |
Giảm mạnh so với 76 tỷ RM năm 1939 |
| Định mức dinh dưỡng bình quân đầu người |
Dưới 1.000 calo/ngày |
Phải dùng chế độ tem phiếu |
| Khẩu phần 1 tuần của người lớn (München) |
350g thịt, 100g mỡ, 1500g bánh mì đen, 400g bánh mì trắng, 15,5g phô-mát, 31,5g váng sữa, 25g "vị cà-phê", 2,5kg khoai tây |
Vùng chiếm đóng của quân đội Mỹ |
| Tỷ lệ mắc bệnh dịch (lao, tả, lỵ) |
Tăng từ 39,1 lên 72,1 ca trên 1 vạn dân |
So sánh năm 1938 với năm 1946 (vùng Mỹ) |
| Tội phạm trộm cắp tại Berlin |
Tăng từ >12.000 vụ lên >110.000 vụ |
So sánh năm 1937 với năm 1946 |
| Làn sóng người Đức hồi hương |
Hơn 11 triệu người |
Từ Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary... |
| Mất cân bằng giới tính (tuổi 25-40) |
Cứ 100 nam giới thì có 125 phụ nữ |
Hậu quả nam giới chết trận và bị bắt |
| Tỷ lệ ly hôn trong xã hội Đức |
Tăng từ 8,9 lên 18,8 vụ trên 1 vạn dân |
So sánh năm 1939 với năm 1948 |
Mục 1.2 phân tích chính sách của khối Đồng minh đối với nước Đức bại trận. Các nguyên thủ quốc gia đã nhóm họp qua hàng loạt hội nghị: Casablanca (tháng 2/1943), Moskva (tháng 10/1943), Teheran (tháng 11-12/1943), Hội đồng Tư vấn Châu Âu (EAC) tại London (1944) và Yalta (tháng 2/1945). Ngay từ trong chiến tranh, các kế hoạch chia cắt nước Đức đã xuất hiện: Kế hoạch của Franklin D. Roosevelt muốn chia Đức thành 5 bang độc lập và 2 vùng kiểm soát quốc tế; Kế hoạch của Henry Morgenthau chủ trương triệt tiêu hoàn toàn tiềm năng công nghiệp nặng và biến Đức thành quốc gia nông nghiệp; Winston Churchill đề xuất thành lập "Liên minh Donau" gồm các bang miền Nam Đức hợp nhất với Áo và Hungary nhằm đối trọng với Phổ và ngăn chặn ảnh hưởng Xô viết; trong khi Iosif Stalin kiên quyết bác bỏ các phương án này và đề xuất phi quân sự hóa, chuyển giao đường biên giới Oder-Neisse cho Ba Lan.
Tại Hội nghị Potsdam (diễn ra từ ngày 17/7 đến ngày 02/8/1945), ba cường quốc đã ký kết bản Hiệp ước lịch sử, xác lập nguyên tắc quản lý nước Đức dưới cơ chế Hội đồng Kiểm soát Đồng minh (Allierter Kontrollrat) với thẩm quyền tối cao, đồng thời đặt ra 4 nguyên tắc định hướng phát triển (nguyên tắc 4D):
- Phi quân sự hoá (Entmilitarisierung): Giải thể toàn bộ các lực lượng vũ trang Đức, phá hủy công nghiệp chiến tranh.
- Phi phát xít hoá (Entnazifizierung): Xóa bỏ đảng Quốc xã, thanh trừng tội phạm chiến tranh và tư tưởng phát xít.
- Phi tập trung hoá kinh tế (Dezentralisation): Giải thể các tập đoàn tư bản lũng đoạn (Cartel, Trust) đã phục vụ cỗ máy chiến tranh của Hitler.
- Dân chủ hoá (Demokratisierung): Tái thiết đời sống chính trị trên nền tảng dân chủ, khôi phục quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo và các chính đảng.
Chương 2: Thời kỳ tạo tiền đề cho sự ra đời của Nhà nước CHLB Đức
Chương 2 luận giải quá trình hình thành các tiền đề khách quan và chủ quan dẫn tới sự phân chia đất nước và ra đời của nhà nước Tây Đức.
Tiền đề khách quan xuất phát từ sự đối đầu chiến lược giữa các nước thành viên khối Đồng minh trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh bùng nổ (Mục 2.1 và 2.2):
- Chiến lược của Mỹ: Thực hiện chính sách "cửa mở" (Open Door), trì hoãn các kế hoạch hậu chiến chi tiết nhằm bảo toàn thị trường tư bản tự do; vận dụng chính sách "ngăn chặn" (Containment Policy) do nhà ngoại giao George F. Kennan khởi xướng năm 1947 nhằm bao vây Liên Xô; triển khai Học thuyết Truman và Kế hoạch Marshall (1948) để phục hồi kinh tế Tây Âu và Tây Đức thành tiền đồn chống chủ nghĩa cộng sản.
- Chiến lược của Anh: Thi hành chính sách "giới hạn", tìm cách duy trì thế cân bằng quyền lực truyền thống tại châu Âu, vừa ngăn ngừa nguy cơ quân phiệt Đức tái trỗi dậy, vừa sử dụng Tây Đức làm bức tường bảo vệ lợi ích của Anh trước ảnh hưởng Xô viết.
- Chiến lược của Liên Xô: Thực hiện chính sách đa chiều, một mặt đòi hỏi nghiêm ngặt việc bồi thường chiến tranh và tháo dỡ các nhà máy công nghiệp ở vùng Đông Đức chuyển về Liên Xô; mặt khác chủ trương xây dựng một nước Đức thống nhất, dân chủ, phi quân sự hoá và trung lập để ngăn ngừa liên minh chống Xô viết.
- Chiến lược của Pháp: Xuất phát từ nỗi ám ảnh an ninh truyền thống sau 3 cuộc chiến tranh với Đức (1870, 1914, 1939), Tướng Charles de Gaulle chủ trương làm suy yếu nước Đức ở mức tối đa, đòi tách rời vùng Saar, quốc tế hóa vùng Ruhr và vùng tả ngạn sông Rhein (Rheinland), kiên quyết phản đối việc tái lập bất kỳ cơ quan chính quyền trung ương thống nhất nào của Đức.
Mâu thuẫn Đông - Tây nhanh chóng làm tê liệt hoạt động của Hội đồng Kiểm soát Đồng minh. Đỉnh điểm là ngày 20 tháng 3 năm 1948, đại diện Liên Xô (Thống chế Vasily Sokolovsky) đã bỏ họp để phản đối các cuộc họp kín của phương Tây tại London. Quá trình chia cắt nước Đức diễn ra dồn dập qua các bước đi đơn phương của khối phương Tây:
- Ngày 01 tháng 01 năm 1947, Mỹ và Anh chính thức hợp nhất kinh tế hai vùng chiếm đóng, lập ra tổ chức BIZONE; sau đó sáp nhập vùng của Pháp thành TRIZONE.
- Ngày 20 tháng 6 năm 1948, phương Tây tiến hành cuộc Cải cách tiền tệ, bí mật phát hành đồng Mác mới (Deutsche Mark - D-Mark) thay thế đồng Reichsmark cũ tại 3 vùng phía Tây và áp dụng sang cả các khu vực phía Tây Berlin.
- Để đáp trả, Liên Xô ban hành lệnh phong tỏa giao thông đường bộ, đường sắt và đường thuỷ đối với Tây Berlin, dẫn tới cuộc "khủng hoảng Berlin" kéo dài từ tháng 6 năm 1948 đến tháng 5 năm 1949. Mỹ và Anh đã tổ chức "cầu hàng không" khổng lồ tiếp tế lương thực và nguyên liệu cho Tây Berlin. Sự kiện này đặt dấu chấm hết cho sự phối hợp bốn bên và biến ranh giới chiếm đóng giữa Đông và Tây thành đường biên giới quốc gia thực tế.
Tiền đề chủ quan được tạo lập thông qua sự phục hồi đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội tại các bang miền Tây (Mục 2.3):
- Bộ máy hành chính và tư pháp: Được thành lập lại từ cấp địa phương, quận huyện đến cấp bang. Toà án Quân sự Quốc tế Nuremberg (1945-1946) xét xử các trùm sỏ phát xít và tội phạm chiến tranh, đặt nền tảng pháp lý quốc tế cho việc phi phát xít hoá. Lực lượng Đồng minh sử dụng bảng khai cá nhân (Fragebogen) để phân loại và thanh trừng các phần tử Quốc xã trong bộ máy nhà nước.
- Đời sống chính trị: Các chính đảng dân chủ nhanh chóng phục hồi và thành lập mới, bao gồm Đảng Dân chủ Xã hội (SPD), Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo (CDU/CSU), Đảng Dân chủ Tự do (FDP) và Đảng Cộng sản Đức (KPD).
- Tái thiết kinh tế và văn hóa: Cải cách tiền tệ và viện trợ từ Kế hoạch Marshall đã kích hoạt nền sản xuất; chính sách kinh tế thị trường xã hội do Ludwig Erhard chủ xướng bắt đầu phát huy tác dụng; đời sống văn học, nghệ thuật và báo chí được giải phóng khỏi ách kiểm duyệt của chế độ Hitler.
Chương 3: Sự ra đời của Nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức
Chương 3 trình bày các bước chuẩn bị cơ sở pháp lý và việc thiết lập thể chế nhà nước của CHLB Đức trong nửa đầu năm 1949.
Mục 3.1 phân tích "Các văn bản Frankfurt" (Frankfurter Dokumente). Ngày 01 tháng 7 năm 1948, Thống đốc quân sự ba nước Mỹ, Anh và Pháp đã trao 3 văn kiện cho các Thủ hiến bang Tây Đức tại Frankfurt am Main. Văn kiện số 1 yêu cầu các Thủ hiến triệu tập một Hội nghị Lập hiến trước ngày 01 tháng 9 năm 1948 để soạn thảo bản Hiến pháp dân chủ có tính chất liên bang; Văn kiện số 2 yêu cầu xem xét lại địa giới các bang; Văn kiện số 3 quy định về Quy chế chiếm đóng (Besatzungsstatut) nhằm xác định thẩm quyền giám sát tối cao của các Thống đốc quân sự phương Tây đối với chính quyền Đức tương lai trong các lĩnh vực giải trừ quân bị, ngoại thương và đối ngoại.
Mục 3.2 mô tả hoạt động của Hội đồng Nghị viện (Parlamentarischer Rat) và quá trình xây dựng Đạo luật Cơ bản (Grundgesetz). Hội đồng Nghị viện gồm 65 đại biểu do Nghị viện các bang miền Tây bầu ra, chính thức khai mạc ngày 01 tháng 9 năm 1948 tại Bonn dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hội đồng Konrad Adenauer. Nhằm nhấn mạnh tính chất tạm thời của việc chia cắt đất nước và khẳng định mục tiêu thống nhất toàn vẹn nước Đức trong tương lai, Hội đồng kiên quyết không dùng danh xưng "Hiến pháp" (Verfassung) mà đặt tên văn kiện là "Đạo luật Cơ bản" (Grundgesetz). Ngày 08 tháng 5 năm 1949 (đúng 4 năm sau ngày phát xít Đức đầu hàng), Hội đồng Nghị viện đã thông qua bản dự thảo Đạo luật Cơ bản với 53 phiếu thuận trên 12 phiếu chống. Sau khi được Nghị viện của 11 bang miền Tây phê chuẩn (duy nhất bang Bayern bỏ phiếu bác bỏ nhưng chấp nhận tuân thủ theo quyết định của đa số) và được các Thống đốc quân sự phương Tây chuẩn y, ngày 23 tháng 5 năm 1949, Konrad Adenauer đã chính thức ký và công bố Đạo luật Cơ bản tại Bonn. Sự kiện này đánh dấu sự ra đời chính thức của Nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức.
Mục 3.3 phân tích chi tiết thể chế chính trị của CHLB Đức được xác lập trong Đạo luật Cơ bản năm 1949:
- Nguyên tắc tổ chức quyền lực: CHLB Đức là một nhà nước liên bang, dân chủ và pháp quyền xã hội. Quyền lực được phân chia rành mạch giữa Trung ương liên bang và các bang (Länder).
- Tổng thống Liên bang (Bundespräsident): Do Hội đồng Liên bang (Bundesversammlung) bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm, chủ yếu thực hiện các chức năng nguyên thủ quốc gia mang tính đại diện, lễ tân, ký công bố luật và đề cử Thủ tướng; quyền hạn hành pháp bị giới hạn nghiêm ngặt nhằm tránh lặp lại bài học lạm quyền của Thống chế Hindenburg thời Weimar.
- Thủ tướng Liên bang (Bundeskanzler): Người đứng đầu chính phủ liên bang, nắm quyền lực hành pháp thực tế cao nhất, do Hạ viện (Bundestag) bầu theo đề nghị của Tổng thống và chịu trách nhiệm trước Hạ viện.
- Cơ quan lập pháp liên bang: Gồm hai viện:
- Hạ viện Liên bang (Bundestag): Do toàn thể công dân Đức bầu cử trực tiếp theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín; giữ quyền làm luật, phê chuẩn ngân sách và giám sát chính phủ.
- Thượng viện Liên bang (Bundesrat): Cơ quan đại diện cho chính phủ của các bang, có quyền tham gia vào quy trình lập pháp, đặc biệt là các đạo luật liên quan trực tiếp đến tài chính và thẩm quyền quản lý của các bang.
- Tòa án Hiến pháp Liên bang (Bundesverfassungsgericht): Thiết chế bảo hiến độc lập cao nhất, có nhiệm vụ phán quyết sự phù hợp của các đạo luật với Đạo luật Cơ bản và giải quyết tranh chấp quyền lực giữa các cơ quan liên bang hoặc giữa liên bang và các bang.
- Cơ chế "bất tín nhiệm mang tính xây dựng" (Konstruktives Misstrauensvotum): Quy định Hạ viện chỉ có thể lật đổ Thủ tướng đương nhiệm khi đồng thời bầu ra được một Thủ tướng mới với đa số phiếu tuyệt đối. Cơ chế đặc thù này ngăn chặn triệt để tình trạng khủng hoảng nội các triền miên và khoảng trống quyền lực như từng xảy ra trong giai đoạn Cộng hoà Weimar.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận, sử liệu và giá trị thực tiễn đối với giới nghiên cứu Việt Nam như sau:
- Về mặt sử liệu và học thuật: Công trình đã tập hợp, dịch thuật và xử lý một cách có hệ thống một khối lượng rất lớn các nguồn tư liệu lưu trữ, văn kiện ngoại giao, hồi ký chính khách và sách chuyên khảo nguyên bản bằng tiếng nước ngoài (chủ yếu là tiếng Đức). Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện đầu tiên ở Việt Nam về quá trình phân chia nước Đức và sự hình thành của hai nhà nước Đức sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
- Về mặt lý luận lịch sử: Luận án góp phần lấp khoảng trống nghiên cứu về lịch sử nước Đức và khu vực Trung Âu trong nền sử học Việt Nam; cung cấp một cách nhìn nhận khách quan, khoa học, dựa trên phương pháp luận Mác-xít để luận giải nguyên nhân chủ quan và khách quan của việc chia cắt nước Đức mà không bị phiến diện theo góc nhìn của riêng phe Đồng minh phương Tây hay phe xã hội chủ nghĩa.
- Đóng góp thực tiễn và ứng dụng đào tạo: Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp tư liệu nền tảng phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo và giảng dạy các chuyên đề chuyên sâu cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử thế giới và Quan hệ quốc tế tại các trường đại học, cao đẳng. Đồng thời, công trình cung cấp cơ sở dữ liệu hữu ích cho việc tìm hiểu thể chế chính trị, kinh nghiệm tổ chức bộ máy nhà nước và cải cách hành chính tại CHLB Đức.
Về mặt kiến nghị, tác giả đề xuất giới sử học trong nước cần tăng cường mở rộng nghiên cứu khu vực học đối với các quốc gia Trung Âu; chủ động tiếp cận các nguồn sử liệu gốc chưa dịch thuật; kết hợp nghiên cứu lịch sử chính trị với lịch sử nhà nước và pháp luật nhằm phục vụ sự hiểu biết sâu sắc giữa hai dân tộc Việt Nam và CHLB Đức.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tự nêu rõ những khó khăn thực tế mà tác giả phải đối mặt trong quá trình thực hiện đề tài tại thời điểm năm 2001:
- Nguồn tư liệu bằng tiếng Việt viết về lịch sử Đức và giai đoạn hậu chiến gần như hoàn toàn không có; các công trình đi trước của giới nghiên cứu trong nước còn rất thưa thớt, khiến nghiên cứu sinh thiếu điều kiện trao đổi kinh nghiệm và kế thừa kiến thức học thuật trong nước.
- Nguồn tư liệu tiếng Đức và tiếng Anh chủ yếu do cá nhân nghiên cứu sinh tự tìm kiếm, mang về từ Đức qua con đường cá nhân và tự xử lý dịch thuật thông qua vốn ngoại ngữ của mình, do đó không tránh khỏi những khó khăn nhất định trong việc bao quát toàn bộ kho lưu trữ đồ sộ của châu Âu.
- Điều kiện tiếp xúc, tham vấn trực tiếp với các chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Đức hiện đại còn bị hạn chế do khoảng cách địa lý và kinh phí nghiên cứu thời điểm đó.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, xuất phát từ phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ ra các vấn đề mang tính logic cần tiếp tục làm sáng tỏ trong tương lai:
- Đi sâu nghiên cứu song song quá trình hình thành Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức (thành lập ngày 07 tháng 10 năm 1949 ở phía Đông) để hoàn thiện bức tranh toàn diện về sự phân lập hai nhà nước đối kháng trên lãnh thổ nước Đức.
- Khảo cứu tiến trình đấu tranh, đối đầu và cùng tồn tại giữa CHLB Đức và CHDC Đức trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh (từ năm 1949 đến năm 1989).
- Phân tích bước ngoặt lịch sử dẫn tới sự sụp đổ của Bức tường Berlin năm 1989 và quá trình tái thống nhất nước Đức vào ngày 03 tháng 10 năm 1990, đưa Đạo luật Cơ bản năm 1949 trở thành bản Hiến pháp chung của toàn thể nước Đức thống nhất.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Lịch sử thế giới, Quan hệ quốc tế, Lịch sử ngoại giao, Luật học so sánh và Châu Âu học. Công trình cung cấp phương pháp tiếp cận và khai thác tư liệu lưu trữ lịch sử quốc tế bằng tiếng nước ngoài.
- Giảng viên và các nhà nghiên cứu lịch sử: Giúp bổ sung nội dung bài giảng, hoàn thiện các giáo trình giảng dạy lịch sử thế giới cận - hiện đại giai đoạn hậu Chiến tranh thế giới thứ hai; làm tài liệu tham khảo để đối chiếu khi nghiên cứu các đề tài về Chiến tranh Lạnh, quan hệ quốc tế thế kỷ XX.
- Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ ngoại giao: Cung cấp bức tranh lịch sử chuẩn xác về nguồn gốc xung đột, sự hình thành các khối liên minh quân sự (NATO, Khối Warszawa) và cơ chế vận hành thể chế chính trị của cường quốc kinh tế số một châu Âu.
- Các nhà nghiên cứu luật học và hành chính công: Bản phân tích chi tiết thể chế chính trị tại Chương 3 (với các thiết chế Bundespräsident, Bundeskanzler, Bundestag, Bundesrat, Bundesverfassungsgericht và cơ chế "bất tín nhiệm mang tính xây dựng") là tư liệu hữu ích cho việc nghiên cứu mô hình tổ chức nhà nước liên bang và kiểm soát quyền lực.
Những phần có giá trị tham khảo cao nhất trong công trình bao gồm: hệ thống số liệu thống kê kinh tế - xã hội thời kỳ "thời điểm số không" ở Chương 1; các phân tích toan tính chính sách của Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô ở Chương 2; bản phân tích pháp lý về Đạo luật Cơ bản 1949 ở Chương 3; và danh mục 32 phụ lục lưu trữ lịch sử phản ánh các bản đồ khu vực chiếm đóng, ảnh tư liệu, tuyên cáo của Hội đồng Kiểm soát Đồng minh và biên bản lập hiến.
Câu hỏi thường gặp
1. Hiệp ước Potsdam năm 1945 đã đề ra những nguyên tắc cốt lõi nào cho việc quản lý nước Đức thời kỳ hậu chiến?
Hiệp ước Potsdam được ký kết ngày 02 tháng 8 năm 1945 giữa ba cường quốc Liên Xô, Mỹ và Anh xác lập thẩm quyền tối cao thuộc về Hội đồng Kiểm soát Đồng minh và đề ra 4 nguyên tắc định hướng (nguyên tắc 4D): phi quân sự hoá (Entmilitarisierung - giải tán toàn bộ quân đội Đức), phi phát xít hoá (Entnazifizierung - xoá bỏ đảng Quốc xã và tư tưởng phát xít), phi tập trung hoá kinh tế (Dezentralisation - giải thể các tổ chức độc quyền kinh tế phục vụ chiến tranh) và dân chủ hoá (Demokratisierung - phục hồi các quyền tự do dân chủ và hệ thống chính đảng). Ngoài ra, hiệp ước xác định ranh giới lãnh thổ phía Đông tạm thời của Đức chạy dọc theo đường sông Oder và sông Neisse (chuyển giao cho Ba Lan quản lý) và quy định việc hồi hương bắt buộc đối với kiều dân Đức ở Đông Âu.
2. Khái niệm "thời điểm số không" (Stunde Null) được luận án luận giải như thế nào về mặt thực tế lịch sử?
Trong luận án, "thời điểm số không" được hiểu theo hai phương diện: Thứ nhất, đó là sự tàn phá và sụp đổ gần như hoàn toàn của toàn bộ xã hội Đức sau chiến tranh, bao gồm cả các giá trị vật thể (nhà cửa, nhà máy, hệ thống đường sá bị phá hủy; nền kinh tế chỉ bằng 1/4 mức năm 1936; nạn đói và dịch bệnh tràn lan) lẫn các giá trị phi vật thể (uy tín quốc gia, chuẩn mực xã hội bị chế độ phát xít làm hoen ố). Thứ hai, đó là thời điểm tư tưởng Quốc xã bị triệt tiêu hoàn toàn, tạo cơ hội cho dân tộc Đức giã từ quá khứ đen tối, rũ bỏ chủ nghĩa quân phiệt độc tài để bắt đầu lại từ con số không, cùng nhau xây dựng một xã hội dân chủ, hoà bình và tiến bộ.
3. Sự kiện nào đóng vai trò mốc phân giới trực tiếp dẫn tới sự phân chia kinh tế - chính trị giữa hai miền Đông - Tây nước Đức?
Cột mốc then chốt là cuộc Cải cách tiền tệ diễn ra ngày 20 tháng 6 năm 1948 tại ba khu vực chiếm đóng phía Tây. Việc các cường quốc phương Tây đơn phương phát hành đồng Mác mới (Deutsche Mark - D-Mark) thay cho đồng Reichsmark cũ và đưa đồng tiền này vào lưu thông ở cả các khu vực phía Tây Berlin đã cắt đứt hoàn toàn thể thống nhất kinh tế của nước Đức. Sự kiện này lập tức dẫn tới việc Liên Xô phản ứng bằng cách phong toả toàn diện đường giao thông bộ, sắt và thuỷ vào Tây Berlin ("khủng hoảng Berlin"), đẩy sự phân rẽ giữa hai miền sang giai đoạn đối đầu công khai không thể đảo ngược.
4. Tại sao văn bản pháp lý tối cao được ban hành ngày 23 tháng 5 năm 1949 lại mang tên là "Đạo luật Cơ bản" (Grundgesetz) mà không dùng tên gọi "Hiến pháp" (Verfassung)?
Hội đồng Nghị viện họp tại Bonn năm 1948-1949 dưới sự chủ trì của Konrad Adenauer đã quyết định không dùng từ "Hiến pháp" (Verfassung) mà dùng tên gọi "Đạo luật Cơ bản" (Grundgesetz) nhằm khẳng định tính chất tạm thời của văn kiện này. Các nhà lập pháp Tây Đức muốn nhấn mạnh rằng văn kiện này được ban hành trong hoàn cảnh đất nước đang bị quân đội nước ngoài chiếm đóng và dân tộc Đức bị chia cắt; họ không thừa nhận việc thành lập CHLB Đức là sự phân chia vĩnh viễn nước Đức, mà Đạo luật Cơ bản chỉ đóng vai trò là khung pháp lý tạm thời cho đến ngày toàn thể nhân dân Đức được tự do biểu quyết thông qua một bản Hiến pháp chung cho một nước Đức thống nhất.
5. Cơ chế "bất tín nhiệm mang tính xây dựng" (Konstruktives Misstrauensvotum) trong Đạo luật Cơ bản năm 1949 giải quyết điểm yếu lịch sử nào của nền dân chủ Đức?
Cơ chế "bất tín nhiệm mang tính xây dựng" được thiết lập nhằm khắc phục triệt để lỗ hổng thể chế của nền Cộng hoà Weimar (1919-1933). Thời Weimar, Hạ viện có thể dễ dàng bỏ phiếu bất tín nhiệm lật đổ Thủ tướng mà không cần có phương án nhân sự thay thế, dẫn tới tình trạng khủng hoảng chính phủ liên miên và mở đường cho Hitler tiếm quyền. Đạo luật Cơ bản năm 1949 quy định: Hạ viện Bundestag chỉ có thể bãi nhiệm Thủ tướng đương nhiệm nếu tại cùng thời điểm đó, Hạ viện bầu ra được một Thủ tướng mới với đa số phiếu tuyệt đối. Quy định này bảo đảm Chính phủ liên bang luôn giữ được sự ổn định chính trị vững chắc và ngăn chặn khoảng trống quyền lực hành pháp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Liên Hương là công trình học thuật chuyên khảo đầu tiên trong nền sử học Việt Nam phục dựng toàn diện, có hệ thống quá trình hình thành Nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức giai đoạn 1945-1949. Dựa trên phương pháp luận duy vật lịch sử và việc xử lý công phu khối lượng lớn tư liệu lưu trữ gốc bằng tiếng Đức, tác giả đã làm sáng tỏ mối quan hệ nhân quả phức tạp giữa sự đổ vỡ của khối liên minh chống phát xít, toan tính chiến lược của bốn cường quốc chiếm đóng và nỗ lực phục hồi nội tại của nhân dân Đức. Luận án khẳng định sự ra đời của CHLB Đức vào ngày 23 tháng 5 năm 1949 là kết quả tất yếu của quá trình phân cực Chiến tranh Lạnh tại châu Âu, đồng thời đánh dấu sự xác lập của một thể chế dân chủ nghị viện liên bang tiến bộ thay thế hoàn toàn di sản độc tài quân phiệt của Đế chế III. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao, đóng góp thiết thực vào công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử thế giới và quan hệ quốc tế tại Việt Nam.