Luận văn thạc sĩ ussh quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất ở xã phù lưu tế huyện mỹ đức tỉnh hà tây 1993 2008

Luận văn thạc sĩ phân tích quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây giai đoạn 1993-2008.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

129
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RUỘNG ĐẤT TẠI XÃ TRƯỚC NĂM 1993

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý

1.1.2. Địa hình, địa mạo

1.1.3. Khí hậu, thời tiết

1.1.4. Thủy văn

1.1.5. Tài nguyên đất

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA VÀ TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT TRONG NHỮNG NĂM 1993 - 2008

3. CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA VÀ TÍCH TỤ RUỘNG ĐẤT ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở XÃ PHÙ LƯU TẾ

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quá trình dồn điền đổi thửa ở Phù Lưu Tế 1993 2008

Quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất ở xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây từ năm 1993 đến 2008 đã diễn ra trong bối cảnh nhiều thay đổi về chính sách và điều kiện kinh tế xã hội. Đây là giai đoạn quan trọng trong việc cải cách quản lý đất đai, nhằm khắc phục tình trạng manh mún và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Việc dồn điền đổi thửa không chỉ giúp tăng diện tích canh tác mà còn tạo điều kiện cho việc áp dụng công nghệ mới và phát triển các mô hình kinh tế trang trại.

1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tại Phù Lưu Tế

Phù Lưu Tế có vị trí địa lý thuận lợi, nằm bên sông Đáy, với địa hình bằng phẳng và khí hậu nhiệt đới gió mùa. Những điều kiện này đã tạo ra môi trường thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Kinh tế xã hội của xã chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với nhiều hộ gia đình sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa và chăn nuôi.

1.2. Tình hình sử dụng ruộng đất trước năm 1993

Trước năm 1993, tình hình sử dụng ruộng đất tại Phù Lưu Tế gặp nhiều khó khăn do chính sách quản lý đất đai chưa hợp lý. Ruộng đất bị phân tán, manh mún, ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả sản xuất. Việc áp dụng các chính sách như Khoán 100 và Khoán 10 đã tạo ra những chuyển biến nhất định nhưng vẫn chưa đủ để giải quyết triệt để vấn đề.

II. Những thách thức trong quá trình dồn điền đổi thửa 1993 2003

Giai đoạn từ 1993 đến 2003, quá trình dồn điền đổi thửa tại Phù Lưu Tế gặp nhiều thách thức. Mặc dù có sự hỗ trợ từ chính sách của Nhà nước, nhưng việc thực hiện gặp khó khăn do tâm lý e ngại của người dân và sự thiếu đồng bộ trong quản lý. Nhiều hộ gia đình vẫn giữ thói quen canh tác truyền thống, dẫn đến việc không tận dụng hết tiềm năng của đất đai.

2.1. Tâm lý e ngại của người dân trong việc dồn điền

Nhiều nông dân tại Phù Lưu Tế lo ngại về việc thay đổi thói quen canh tác và sợ mất quyền lợi khi tham gia vào quá trình dồn điền. Điều này đã làm chậm tiến độ thực hiện các chính sách dồn điền đổi thửa.

2.2. Thiếu đồng bộ trong quản lý đất đai

Việc quản lý đất đai tại Phù Lưu Tế chưa được đồng bộ, dẫn đến tình trạng lộn xộn trong việc phân chia và sử dụng đất. Các cơ quan chức năng chưa có sự phối hợp chặt chẽ, ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình dồn điền.

III. Phương pháp dồn điền đổi thửa hiệu quả 2003 2005

Giai đoạn 2003-2005, xã Phù Lưu Tế đã áp dụng nhiều phương pháp dồn điền đổi thửa hiệu quả. Các chính sách khuyến khích tích tụ ruộng đất được triển khai mạnh mẽ, giúp người dân nhận thức rõ hơn về lợi ích của việc dồn điền. Sự tham gia tích cực của các tổ chức đoàn thể cũng góp phần thúc đẩy quá trình này.

3.1. Khuyến khích tích tụ ruộng đất

Chính quyền địa phương đã triển khai nhiều chính sách khuyến khích người dân tham gia vào quá trình tích tụ ruộng đất. Các mô hình hợp tác xã được thành lập, tạo điều kiện cho nông dân hợp tác sản xuất.

3.2. Vai trò của các tổ chức đoàn thể

Các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ đã đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền và vận động người dân tham gia vào quá trình dồn điền. Họ đã tổ chức nhiều buổi hội thảo, tọa đàm để nâng cao nhận thức cho người dân.

IV. Kết quả và tác động của quá trình dồn điền 2005 2008

Từ năm 2005 đến 2008, quá trình dồn điền đổi thửa tại Phù Lưu Tế đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Năng suất cây trồng tăng lên rõ rệt, đời sống của người dân được cải thiện. Các mô hình kinh tế trang trại phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân.

4.1. Tăng năng suất cây trồng

Quá trình dồn điền đã giúp tăng diện tích canh tác lớn hơn, từ đó năng suất cây trồng cũng tăng lên. Nhiều hộ gia đình đã áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế.

4.2. Cải thiện đời sống người dân

Nhờ vào việc dồn điền đổi thửa, đời sống của người dân Phù Lưu Tế đã có nhiều cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người tăng lên, nhiều hộ gia đình đã có khả năng đầu tư vào giáo dục và y tế.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất ở Phù Lưu Tế từ năm 1993 đến 2008 đã mang lại nhiều thành công, nhưng cũng còn nhiều thách thức cần giải quyết. Để tiếp tục phát triển, cần có những chính sách đồng bộ và sự tham gia tích cực của người dân.

5.1. Đánh giá tổng quan về quá trình dồn điền

Quá trình dồn điền đã giúp cải thiện tình hình sử dụng đất đai, nâng cao năng suất và thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi và điều chỉnh các chính sách để phù hợp với thực tiễn.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, xã Phù Lưu Tế cần tiếp tục đẩy mạnh các chính sách dồn điền đổi thửa, đồng thời phát triển các mô hình kinh tế bền vững, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất ở xã phù lưu tế huyện mỹ đức tỉnh hà tây 1993 2008

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thực trạng sử dụng ruộng đất tại xã trước năm 1993 Chương 2: Quá trình dồn điền, đổi thửa và tích tụ ruộng đất trong những năm 1993 - 2008 Chương 3: Tác động của quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở xã Phù Lưu Tế Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RUỘNG ĐẤT TẠI XÃ TRƢỚC NĂM 1993 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Xã Phù Lưu Tế là một xã thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây 1.

Xã có ba thôn nối tiếp nhau trải dài bên hữu ngạn sông Đáy, người dân quen gọi với cái tên là thôn Thượng, thôn Trung và thôn Hạ, với chiều dài chừng 5km, bề ngang chỗ hẹp nhất là 1,2 km, chỗ rộng nhất tới 2 km. Phía Đông sát dòng sông Đáy, đối diện với xã Hoà Xá, nơi có nghề dệt cổ truyền và là quê hương của bài hát “Chiếc gậy Trường Sơn”. Việc giao lưu giữa hai xã từ thế hệ này sang thế hệ khác rất thân tình tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp giữa Phù Lưu Tế với Hòa Xá. Phía Tây, qua các cánh đồng của địa phương có các thôn Thượng và Hạ Quất thuộc xã Hợp Tiến, xa hơn là dãy Hương Sơn chạy dọc theo phía tây huyện Mỹ Đức từ Đồng Tâm tới Hương Sơn rồi nối dài với dải Trường Sơn hùng vĩ.

Phía Bắc tiếp giáp với xã Phùng Xá và một phần tiếp giáp với xã Xuy Xá (trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ba xã Phù Lưu Tế - Phùng Xá - Xuy Xá hợp nhất thành một xã lấy tên là Tam Đức). Còn phía Nam tiếp giáp với thị trấn Tế Tiêu (giờ là thị trấn Đại Nghĩa), một đầu mối giao thông quan trọng của huyện Mỹ Đức. Từ lâu, Phù Lưu Tế đã là trung tâm của Mỹ Đức, ngã ba thôn Trung là nơi hội tụ các nẻo đường từ phía Bắc và phía Nam huyện đổ về. Tại đó, có chợ trung tâm là nơi trao đổi hàng hóa, nông sản ở địa phương.

Chợ tuy nhỏ, hàng hóa không nhiều, song đáp ứng được một phần nhu cầu đời sống của 1 Tên gọi của tỉnh từ năm 2008 trở về trước, nay đã sáp nhập với Hà Nội 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân dân địa phương, đó là chợ Phù Lưu Tế. Cùng với đường bộ là đường thủy, việc ngược xuôi theo dòng sông Đáy rất thuận tiện, cuối xã có một dòng chảy nhỏ, gọi là ngòi Ngánh nối sông Đáy với sông Thanh Hà chạy theo ven núi. Với hệ thống đường bộ, đường thủy tạo cho Phù Lưu Tế giao lưu với các nơi trong huyện, tỉnh và xa hơn ngày càng thuận tiện. Với vị trí địa lý như trên, Phù Lưu Tế có điều kiện tương đối thuận lợi trong việc tiếp cận với các trung tâm kinh tế và thị trường trong và ngoài huyện, như: thị trấn Tế Tiêu, thị xã Hà Đông, thủ đô Hà Nội, khu công nghệ cao Hòa Lạc và chuỗi đô thị mới Xuân Mai - Miếu Môn - Hòa Lạc - Sơn Tây.

Phù Lưu Tế trong tương lai sẽ góp phần to lớn cùng với các xã khác trong huyện Mỹ Đức có vai trò quan trọng trong việc cung cấp rau, thực phẩm chất lượng cao, hoa, cây cảnh … cho các thị trường lớn này. Vị trí địa lý cũng tạo tiềm năng cho Phù Lưu Tế phát triển du lịch, điển hình là du lịch sinh thái cuối tuần kết hợp với mô hình trang trại quy mô lớn. Đây là đặc điểm mà chính quyền và nhân dân xã Phù Lưu Tế đặc biệt chú ý trong quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong giai đoạn tới. Địa hình, địa mạo Phù Lưu Tế nói riêng, Mỹ Đức nói chung nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhưng cũng là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi.

Huyện có hai dạng địa hình chính: Địa hình núi đá xen kẽ với các khu vực úng trũng bao gồm 10 xã phía Tây huyện. Xã Phù Lưu Tế nằm trong số 12 xã, thị trấn ven sông Đáy. Địa hình khá bằng phẳng và hơi dốc theo hướng từ Đông sang Tây, rất thuận lợi cho việc xây dựng công trình thủy lợi tự chảy dùng nguồn nước sông Đáy tưới cho các cánh đồng lúa thâm canh. Độ cao địa hình trung bình dao động trong 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoảng từ 3,8 m đến 7 m so với mực nước biển.

Trong khu vực cũng có nhiều điểm trũng tạo thành các hồ, đầm nhỏ thuận lợi cho việc chăn, thả thủy sản. Với địa hình như trên, Phù Lưu Tế là một trong những xã trong huyện có điều kiện rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Khí hậu, thời tiết Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm ở đây được chia thành bốn mùa khá rõ rệt với các đặc trưng khí hậu như sau: Nhiệt độ không khí: bình quân năm là 23,1oC, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình là 13,6 oC (vào tháng 1). Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7), trên 33,2oC.

Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến trước tháng 3 năm sau, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10. Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.630,6 giờ, năm cao nhất là 1.700 giờ, năm thấp nhất là 1. Lượng mưa bình quân năm là 1.520,7 mm, phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 336,1 mm. Mùa khô từ cuối tháng 10 đến tháng 3 năm sau, tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 chỉ có 17,5 - 23,2 mm.

Sương muối hầu như không có, mưa đá rất ít xảy ra. Thông thường cứ 10 năm mới quan sát thấy mưa đá một lần. Như vậy, Phù Lưu Tế có điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng trọt, chăn nuôi và mở mang thêm các ngành kinh tế khác như dịch vụ, tiểu thủ công… 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thủy văn Chế độ mưa theo mùa ảnh hưởng rõ nét đến chế độ thủy văn của các sông chính trong khu vực, đặc biệt là sông Đáy.

Hệ thống sông Đáy là một phân lưu của sông Hồng, phần sông chảy qua địa phận xã Phù Lưu Tế khá dài. Độ uốn khúc của sông lớn, sông bị bồi lấp mạnh. Về mùa khô, nhiều đoạn sông chỉ như một lạch nhỏ. Tuy nhiên, lưu lượng đủ cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.

Xã Phù Lưu Tế nói riêng, huyện Mỹ Đức nói chung, nằm trong vùng phân lũ của Hà Nội, vì vậy quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp luôn phải tính đến yếu tố này để bố trí thời vụ hợp lý. Tài nguyên đất Với vị trí địa lý như đã trình bày trong phần 1, xã Phù Lưu Tế chủ yếu là các loại đất sau: Đất phù sa được bồi đắp hàng năm: phân bố chủ yếu ở địa hình ngoài đê dọc theo sông Đáy. Đây là loại đất tốt, có độ phì thực tế cao, thích hợp với phần lớn các loại cây màu và cây ngắn ngày như mía, đậu đỗ, lạc, dâu. Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm: chiếm diện tích nhiều hơn, phân bố ở địa hình phía trong đê.

Do nằm ở vị trí phía trong đê, từ lâu không được bổ sung phù sa mới, hình thái phẫu diện đã có sự phân hóa, những nơi canh tác lâu năm đã hình thành nên tầng đế dày, đất thường có màu sắc từ nâu sẫm đến nâu nhạt. Loại đất này phần lớn diện tích đã được khai thác trồng lúa nước hai vụ, một phần diện tích trồng các loại cây cạn ngắn ngày như ngô, khoai lang, mía, đậu đỗ… Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 651,44 ha, chiếm tỷ lệ 2,83 % tổng diện tích đất tự nhiên của cả huyện, trong đó cơ cấu các loại đất được phân bổ như sau: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Cơ cấu các loại đất năm 2008 Diện tích Tỷ lệ STT Mục đích sử dụng đất (ha) (%) Đất nông nghiệp: 444,34 68,21 1. Đất sản xuất nông nghiệp 441,18 67,72 1.Đất trồng cây hàng năm 439,44 67,46 1.Đất trồng cây hàng năm khác 37,96 5,83 nông 1.Đất trồng cây lâu năm 1,74 0,27 nghiệp 1.Đất nuôi trồng thủy sản 3,16 0,49 2. Đất phi nông nghiệp 207,10 31,79 Đất 2.Đất chuyên dùng 116,85 17,94 nông 2.Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 2,72 0,42 nghiệp 2.Đất quốc phòng, an ninh 0,51 0,08 1,20 2.Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 7,81 16,24 2.Đất có mục đích công cộng 105,81 0,03 2.Đất tôn giáo, tín ngưỡng 0,18 1,37 2.Đất nghĩa trang, nghĩa địa 8,90 3,75 2.Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 24,45 Nguồn: Niên giám thống kê huyện Mỹ Đức, năm 2008 Căn cứ vào bảng số liệu trên ta thấy, đất nông nghiệp chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên của xã, trong đó chủ yếu là đất trồng lúa, các loại đất trồng màu, trồng dâu và trồng cây ăn quả chiếm tỷ lệ rất nhỏ.

Căn cứ vào tổng diện tích đất nông nghiệp và số nhân khẩu được chia ruộng là 6.540 khẩu 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (những người sinh sau ngày 15/10/1993 không được chia ruộng) thì bình quân ruộng đất là 552 m2/khẩu, số liệu này cũng tương đương với các xã khác trong huyện. Tuy nhiên, ngược dòng thời gian thì bình quân ruộng đất đã ngày càng giảm đi đáng kể. Điều kiện kinh tế - xã hội 1. Dân số và lao động Tính đến 31/12/2008, toàn xã có 1.500 lao động, cơ cấu lao động các ngành như sau: Lao động nông lâm, thủy sản: chiếm 81,49 %.

Lao động công nghiệp - xây dựng: chiếm 11,90 %. Lao động thương mại - dịch vụ: chiếm 6,62 %. Với cơ cấu lao động như trên, người dân địa phương chủ yếu làm nông nghiệp, bao đời nay cuộc sống của họ gắn với ruộng đồng, làng xóm. Với 60 % dân số trong độ tuổi lao động, trong đó trên 80 % là lao động nông, lâm, thủy sản là một nhân tố thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Trên địa bàn của xã cũng có một bộ phận nhỏ dân cư hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, nhưng chủ yếu là làm thuê và buôn bán nhỏ để có thêm thu nhập cho gia đình, bên cạnh đó họ vẫn duy trì nghề nghiệp mà cha ông truyền lại - nghề nông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quá Trình Dồn Điền Đổi Thửa và Tích Tụ Ruộng Đất ở Phù Lưu Tế (1993-2008)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thay đổi trong quản lý và sử dụng đất đai tại khu vực Phù Lưu Tế trong khoảng thời gian từ 1993 đến 2008. Tác giả phân tích quá trình dồn điền đổi thửa, một chính sách quan trọng nhằm tối ưu hóa việc sử dụng đất nông nghiệp, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. Bên cạnh đó, tài liệu cũng nêu rõ những lợi ích của việc tích tụ ruộng đất, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tác động của các chính sách này đối với phát triển nông thôn và kinh tế địa phương.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến phát triển nông thôn và quản lý đất đai, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn ths qlc quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang, nơi đề cập đến các chính sách xây dựng nông thôn mới. Ngoài ra, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp tìm hiểu vai trò chức năng nhiệm vụ của cán bộ phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của cán bộ trong việc thực hiện các chính sách nông nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnua phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh cung cấp cái nhìn về phát triển nông nghiệp hàng hóa, một khía cạnh quan trọng trong việc nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và phát triển nông thôn.