Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm đô thị và đô thị hóa 1. Đô thị Xuất phát từ lịch sử hình thành đô thị cổ, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng khái niệm đô thị gồm hai thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức năng hành chính - chính trị; thị có nghĩa là chợ, mang hàm nghĩa kinh tế, trong đó chức năng chính trị lấn át chức năng kinh tế. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, định nghĩa trên dường như không bao quát hết các khía cạnh của đô thị.
Chính vì vậy theo các tác giả của công trình khoa học Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, “Đô thị là điểm dân cư tập trung với mức độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, huyện” [2; tr. Ngày 5/10/2001 Nghị định số 72/2001/NĐ-CP được ban hành thay thế cho Nghị định 132 về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị. Theo đó, đô thị nước ta là các điểm dân cư tập trung có đủ hai điều kiện sau: Đô thị là các thành phố, thị xã, thị trấn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Về trình độ phát triển: 1- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ nhất định, nhỏ nhất cũng phải là tiểu vùng trong huyện; 2- Quy mô dân số tối thiểu của nội thành, nội thị là 4.000 người; 3- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65% trở lên trong tổng số lao động của nội thành, nội thị; 4- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị đạt 70% mức quy định đối với từng loại đô thị; 5- Mật độ dân cư được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm từng vùng, tối thiểu 2000 người/km.
Năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 về việc phân loại đô thị cũng như đưa ra chương trình phát triển đô thị. Theo Nghị định này, đô thị ở Việt Nam được phân thành 6 loại: Loại đặc biệt; loại I, II, III, IV, V được cơ quan 9 nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận. Theo đó: đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành; đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị; Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị; Đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn. Đô thị hóa Khái niệm đô thị hóa được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra định nghĩa tùy theo quan điểm và góc độ tiếp cận.
Theo các nhà địa lý, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, mật độ dân cư, thương mại, dịch vụ hoặc các hoạt động khác mang tính chất phi nông nghiệp tại một khu vực. Quá trình đô thị hóa được thể hiện ở các nội dung: - Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có. Sự thay đổi này thường không phải là tác nhân chính đối với sự phát triển của đô thị vì mức độ tăng dân số tự nhiên của thành phố không cao hơn so với vùng nông thôn. - Sự chuyển dịch dân cư từ vùng nông thôn ra thành thị, nói rộng hơn là sự nhập cư từ các vùng đến đô thị.
Đây là nguyên nhân chính dẫn tới sự gia tăng dân số đột biến trên một vùng hay lãnh thổ. - Sự chuyển dịch đất đai từ mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và đất thổ cư. Theo những nhà quản lý và kinh tế, đô thị hóa “là quá trình cấu trúc lại chức năng của khu vực nông thôn, là quá trình gia tăng phát triển công nghiệp và dịch vụ. Vì vậy đô thị hóa thường được hiểu như là quá trình song song với sự phát triển công nghiệp và cuộc cách mạng công nghệ, gia tăng các hoạt động phi nông nghiệp hội tụ trên một không gian nhất định” [72; tr.
Có thể thấy rằng đô thị hóa là một phạm trù rộng lớn, đề cập một cách sâu sắc, toàn 10 diện đến quá trình chuyển đổi mạnh mẽ các lĩnh vực trong đời sống từ kinh tế, xã hội, văn hóa đến khoa học kỹ thuật và cả không gian cư trú của con người. Tác giả Đàm Trung Phường đã tổng kết: “Đô thị hóa là một quá trình chuyển dịch lao động, từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có như nông, lâm, ngư nghiệp, khai khoáng phân tán trên một diện tích rộng khắp, hầu như toàn quốc sang những hoạt động tập trung hơn như chế biến sản xuất, xây dựng cơ bản, vận tải, sửa chữa, dịch vụ thương mại, tài chính, văn hóa xã hội, khoa học kỹ thuật,. Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế - xã hội, trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức lối sống xã hội. Do vậy, có thể nói đô thị hóa là một quá trình diễn biến về kinh tế, xã hội, văn hóa, không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự” [105; tr.
Mặc dù còn nhiều cách nhìn khác nhau về đô thị hóa nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều thống nhất với nhau: đô thị hóa là một vấn đề mang tính tất yếu khách quan của sự phát triển, có tính phổ biến toàn cầu trên phạm vi rộng lớn. Đây là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, nó diễn ra trong một không gian rộng lớn và khoảng thời gian lâu dài để chuyển biến các xã hội nông nghiệp - nông dân sang các xã hội đô thị - công nghiệp và thị dân. Trong luận án này, chúng tôi sử dụng quan điểm rằng: Đô thị hóa thực chất là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội với các đặc trưng sau: Một là, hình thành và mở rộng quy mô hạ tầng đô thị hiện đại với quy hoạch về cảnh quan kiến trúc theo hướng đô thị hiện đại. Hai là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Ba là, những chuyển biến trong đời sống xã hội như thay đổi cơ cấu dân cư, lao động, chuyển đổi từ lối sống phân tán (mật độ dân cư thưa) sang sống tập trung (mật độ dân cư cao), chuyển từ lối sống nông thôn sang lối sống thành thị, đi cùng với đó là cách thức quản lí đô thị phù hợp. 11 Quan điểm trên chính là định hướng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện các nội dung của luận án. Công trình nghiên cứu chung về đô thị và đô thị hoá tại Việt Nam 1. Công trình của các tác giả nước ngoài Quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở châu Âu, Bắc Mỹ và cùng với đó là quá trình đô thị hóa đã diễn ra rất rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Đến nửa sau thế kỷ XX, thực tế phần lớn cư dân các nước phát triển phương Tây đã sống ở đô thị và văn hóa đô thị chi phối các mặt đời sống của họ. Văn hóa đô thị trong xã hội hiện đại được nhận thức trên nhiều phương diện, đặc biệt về mặt xã hội và văn hóa. Vào thập niên 70 của thế kỷ XX, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có cách tiếp cận mới về đời sống xã hội, văn hóa đô thị, tiêu biểu là công trình nghiên cứu Vấn đề đô thị (1970) của Manuel Castell. Dưới ảnh hưởng của quan niệm mác-xít mới, M.
Castell định nghĩa đô thị là “một không gian cho sự tiêu dùng tập thể”; sau này, M. Castell tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về những tác động của các phong trào xã hội ở đô thị và tính tự trị tương đối của nhà nước đối với đô thị. trong cuốn World Urbanization 1950-1970 (Đô thị hoá thế giới 1950-1970), (Califonia, 1972) đã phân tích sự thay đổi dân số nông thôn - đô thị trong những năm 1950- 1970 và coi đó là nền tảng của đô thị hoá. cho rằng: Công nghiệp chính là động lực cơ bản đằng sau dẫn đến sự di chuyển của cư dân nông thôn ra thành thị tìm kiếm việc làm tại các nhà máy, xí nghiệp.
Trong bài viết “The World City Hypothesis, Development and Change” (Giả thuyết thành phố thế giới, phát triển và thay đổi) của Friedmann, đăng trên International Journal of Urban and Regional Research, 1986, 17, từ trang 69 đến trang 83, tác giả đã trình bày lý thuyết toàn cầu hoá về đô thị hoá tiếp tục từ những năm 1970 đến năm 1980 với sự hình thành của các siêu đô thị trên thế giới. Tác giả đã đưa ra ba giả thuyết với dân số đô thị và không gian đô thị hóa. Thứ nhất là các thành phố trên thế giới tập trung tạo nguồn vốn thế giới. Thứ hai, sự tăng trưởng kinh tế của các thành phố trên thế giới minh họa cho những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản công nghiệp, đáng chú ý nhất là sự phân cực không gian và 12 giai cấp của Hồi giáo.
Thứ ba, chi phí cho thành phố trên thế giới thường vượt xa khả năng tài chính của bang mà kết quả là tiếp tục khủng hoảng tài chính và xã hội. trong công trình World-system Theory and The Study of Comparative urbanization (Lý thuyết hệ thống thế giới và nghiên cứu về đô thị hóa so sánh), (In: Smith, M.