Tổng quan luận án

Công trình "Một số phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái trong câu ghép tiếng Việt" của nghiên cứu sinh Ngô Thị Minh được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2001, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Hoàng Trọng Phiến và TS Đào Thị Thanh Lan. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số 5.08) thuộc hệ thống học vị Tiến sĩ Ngữ văn.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong những thập niên cuối thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của tín hiệu học, tâm lý học, xã hội học và văn học, ngôn ngữ học đã chuyển trọng tâm từ việc xem xét ngôn ngữ như một hệ thống ký hiệu khép kín sang một cơ chế mở và vận động trong giao tiếp xã hội. Theo định hướng ngữ pháp chức năng của M. A. K. Halliday, việc nghiên cứu ngôn ngữ đòi hỏi phải coi hệ thống ý nghĩa được hiện thực hóa qua các hình thức biểu đạt, xem hình thức như phương tiện hướng tới mục đích giao tiếp. Tình thái là một thành phần ngữ nghĩa cơ bản của câu và phát ngôn, phản ánh thái độ đánh giá của người nói đối với hiện thực khách quan và đối với người tiếp nhận. Tuy nhiên, ngữ pháp truyền thống trước đây chủ yếu chú trọng cấu trúc hình thức cú pháp, chỉ xem các liên từ trong câu ghép như phương tiện liên kết logic thuần túy mà chưa miêu tả một cách hệ thống các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát câu ghép tiếng Việt như một đơn vị phát ngôn có các từ nối, phụ từ và trợ từ tham gia chi phối ngữ nghĩa - ngữ dụng.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của luận án được xác định rõ:

  1. Mục tiêu thứ nhất: Khảo sát, miêu tả và lý giải có hệ thống các phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái trong câu ghép tiếng Việt, tập trung vào các yếu tố kết nối mang tư cách là tác tử tình thái.
  2. Mục tiêu thứ hai: Xác định vai trò của các tác tử này đối với việc hình thành các đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng và hiệu lực giao tiếp của câu ghép.
  3. Mục tiêu thứ ba: Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác nghiên cứu lý luận ngôn ngữ học tiếng Việt và ứng dụng giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường.
  4. Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: Ý nghĩa tình thái trong các cấu trúc phát ngôn có dạng câu ghép tiếng Việt được thể hiện thông qua những hình thức ngữ pháp - từ vựng nào, và cơ chế tác động của các tác tử tình thái đối với thái độ đánh giá của chủ thể phát ngôn diễn ra ra sao?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái trong câu ghép tiếng Việt, cụ thể là các tổ hợp liên từ, cặp phụ từ hoặc trợ từ (như nếu - thì, giá - thì, cứ - thì, hễ - thì, đã - thì, mới - đã, chưa - đã, không những - mà còn, những tưởng - nào ngờ...). Về phạm vi nghiên cứu, luận án giới hạn khảo sát trên các phát ngôn có hình thức câu ghép trong tiếng Việt hiện đại, trích xuất từ 24 nguồn tư liệu văn học và báo chí giai đoạn thế kỷ XX, đặc biệt tập trung vào các ấn phẩm truyện ngắn và báo chí từ năm 1996 đến năm 2000.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại các chặng đường phát triển của lý thuyết tình thái trong logic học và ngôn ngữ học trên thế giới cũng như tại Việt Nam:

Về các công trình quốc tế, tác giả truy nguyên từ các chuyên luận cổ điển của Aristote (De L'interprétation và Premiers analytiques) về mệnh đề tình thái và phép tam đoạn luận tình thái. Trong ngôn ngữ học hiện đại, O. Jespersen (1921) đã phân chia hệ thống tình thái thành hai nhánh lớn (nhánh bắt buộc, cho phép, hứa hẹn và nhánh tất yếu, xác định, giả định, điều kiện), đặt nền móng cho việc phân biệt tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality). G. H. Von Wright (1951) phân lập bốn kiểu tình thái gồm: chân ngụy (alethic), nhận thức (epistemic), đạo nghĩa (deontic), tồn tại (existential) và đề xuất thêm khái niệm tình thái động lực (dynamic modality). John Lyons (1979) định nghĩa tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề, chia thành tình thái chủ quan, tình thái hiện thực, tình thái nhận thức - đạo nghĩa, cùng tình thái khả năng - tất yếu. F. R. Palmer (1986) tổng kết bốn vấn đề căn bản của tình thái học và nhấn mạnh vai trò của hệ thống động từ tình thái, thể và tiểu từ tình thái. Ngoài ra, luận án kế thừa lý thuyết hành vi ngôn ngữ của J. L. Austin và J. R. Searle với năm lớp hành vi (xác nhận, chỉ phối, cam kết, tuyên bố, biểu cảm); quan niệm của T. Givón về đánh giá nhận thức và đánh giá giá trị; quan điểm của V. V. Vinogradov và É. Benveniste về chủ thể tình thái; cùng nhận định của O. I. Moskalskaja về tính đa nghĩa ngữ cảnh của các liên từ trong cấu trúc cú pháp phức hợp.

Tại Việt Nam, các tác giả đi trước đã tiếp cận phạm trù tình thái và hư từ ở nhiều góc độ: Nguyễn Anh Quế (1986) trong chuyên luận "Hư từ trong tiếng Việt hiện đại" đã khẳng định vai trò của hư từ trong việc thể hiện ý nghĩa ngữ pháp và sắc thái ngôn từ; Lê Đông qua các bài viết trên Tạp chí Ngôn ngữ (1990) chỉ ra rằng liên từ và giới từ tiếng Việt luôn chứa đựng nội dung tình thái đánh giá chứ không đơn thuần là phương tiện nối kết logic; Nguyễn Đức Dân tiếp cận từ góc độ ngữ dụng học và thang độ đánh giá (chân lý, thẩm mỹ, tinh thần, thực dụng); Hoàng Phê, Phạm Hùng Việt, Đào Văn Hùng, Đoàn Thị Thu Hà nghiên cứu về các phương tiện tình thái cụ thể như trợ từ và quan ngữ; Cao Xuân Hạo phân tích cấu trúc Đề - Thuyết, hệ thống vị từ tình thái và khởi ngữ tình thái; Đỗ Hữu Châu chỉ ra cấu trúc nghĩa của câu chịu sự chi phối quyết định của hiệu lực tại lời; Nguyễn Văn Hiệp và nhóm tác giả cuốn "Thành phần câu tiếng Việt" (1999) phân tích định ngữ và tình thái ngữ.

Vị trí của luận án được xác lập rõ ràng: Đây là công trình đầu tiên trong nước nghiên cứu ý nghĩa tình thái một cách có hệ thống thông qua việc khảo sát, biện giải các tác tử chuyên dụng trong mô hình câu ghép tiếng Việt. Luận án vượt qua cách tiếp cận hình thức đơn thuần của ngữ pháp truyền thống để làm rõ chức năng tải nghĩa của các phương tiện liên kết trong mối quan hệ hữu cơ với chủ ngôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án xác lập khung phân tích dựa trên sự phân biệt giữa thành phần ngôn liệu (dictum - nội dung mệnh đề miêu tả sự tình khách quan) và thành phần tình thái (modality - thái độ chủ quan của người nói gắn vào mệnh đề). Luận án phân định hai bình diện tình thái:

  • Tình thái khách quan: Thể hiện mối liên hệ giữa điều thông báo với thực tế khách quan trên trục đối lập hiện thực tính (factual) và phi hiện thực tính (non-factual).
  • Tình thái chủ quan: Mối quan hệ giữa người nói với điều được thông báo, phản ánh mức độ cam kết về tính chân thực và thái độ đánh giá theo thang đo giá trị cá nhân lẫn chuẩn mực xã hội.

Nội dung ý nghĩa tình thái được phân chia thành hai phạm trù nòng cốt:

  1. Tình thái nhận thức (epistemic modality): Thể hiện sự hiểu biết, niềm tin và mức độ cam kết của người nói đối với tính chân thực của sự việc, gồm: tình thái thực (factive), tình thái phi thực (non-factive) và tình thái phản thực (contra-factive).
  2. Tình thái đạo nghĩa (deontic modality): Gắn với các quy tắc, chế định đạo đức, nghĩa vụ xã hội hoặc chuẩn mực hành vi (bắt buộc, cam đoan, cho phép, miễn trừ).

Về phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Việt, luận án tổng hợp ba cấp độ chính:

  • Cấp độ ngữ âm: Ngữ điệu và trọng âm câu kết hợp với dấu câu, trợ từ.
  • Cấp độ từ vựng - ngữ pháp: Hệ thống động từ tình thái (có thể, phải, cần, định, toan, tưởng, tin...); hệ thống trợ từ (khoảng 77 trợ từ theo thống kê của Phạm Hùng Việt, tiêu biểu như chính, mất, nào, những, đấy, chứ sao); hệ thống phụ từ (đã, sẽ, càng...).
  • Cấp độ ngữ pháp: Thành phần phụ biểu hiện tình thái gồm tình thái ngữ (thật ra, té ra), khởi ngữ (có le, lẽ nào), ngữ đoạn phụ (lạ thay, như ai nấy đều biết), cấu trúc câu phức có thành phần chính biểu hiện tình thái (X nghĩ rằng P), và phương tiện trật tự từ giữa các vế câu.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng các phương pháp và thao tác kỹ thuật sau:

  • Phương pháp quy nạp: Đi từ cứ liệu phát ngôn cụ thể trong văn bản để khái quát hóa thành các quy luật lý luận về ngữ nghĩa và ngữ pháp.
  • Kỹ thuật xử lý tư liệu: Thống kê và phân loại hình thức câu ghép thành các nhóm dựa trên sự hiện diện của các cặp liên từ, phụ từ, trợ từ và đặc điểm nghĩa toàn câu.
  • Thao tác thay thế, cải biến hệ hình: Thay thế các tác tử tương đương (chẳng hạn thay giá bằng phải chi, ước gì) để làm tường minh hóa ngữ nghĩa đích thực và chiến lược hành ngôn của người nói.
  • Thao tác phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng: Đặt câu ghép vào ngữ cảnh giao tiếp rộng và hẹp để phân tích các tầng nghĩa tiền giả định, hàm ẩn, hiệu lực tại lời (illocutionary force) và sự tiếp nhận của người nghe (illocutionary uptake).

Nguồn tư liệu của luận án gồm hàng trăm ngữ cảnh trích dẫn từ 24 nguồn văn bản văn học hiện đại và báo chí, được lập mã quy ước cụ thể: Tác phẩm của Hồ Chí Minh (HCM 30, HCM 47, HCM 57, HCM 70, HCMTr), Nam Cao (TTNC), Tô Hoài (NNP), Nguyễn Minh Châu (CL), Nguyễn Khải (TGCN), Nguyễn Công Hoan (BĐC), Nguyễn Huy Thiệp (TTNHT), Phan Thị Vàng Anh (HC), Nguyễn Đình Thi (ĐQ), Nguyễn Thị Châu Giang (CT), Nguyễn Thị Ngọc Tú (HMT), Tuyển tập truyện ngắn hay các năm 1996, 1997, 1998, 1999 (TN96, TN97, TN98, TN99), Chín tác giả nữ (TGN), báo Văn nghệ (1996-2000), tạp chí Văn nghệ quân đội (VNQD 96, VNQD 98) và tạp chí Tác phẩm mới (1998-2000).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những khái niệm làm cơ sở lý luận cho luận án

Chương 1 có dung lượng 37 trang, hệ thống hóa toàn bộ các tiền đề lý thuyết chi phối đề tài. Tác giả phân tích phạm trù tình thái từ nguồn gốc logic học sang ngôn ngữ học, chỉ ra sự giao thoa lẫn điểm khác biệt: logic học tập trung vào giá trị chân ngụy và tính khách quan, trong khi ngôn ngữ học chú trọng vai trò của người nói và tính tình thái chủ quan.

Chương này trình bày chi tiết quan niệm của các nhà nghiên cứu về bản chất hai phần của phát ngôn: dictum và modality. Tác giả khảo sát các phương tiện biểu đạt tình thái trong ngôn ngữ tự nhiên nói chung và tiếng Việt nói riêng, chia thành ba nhóm phương tiện: ngữ âm, từ vựng - ngữ pháp và ngữ pháp thuần túy. Tác giả đi sâu vào các lớp hư từ phi miêu tả, phân tích cơ chế tạo lập bốn loại thông tin ngữ nghĩa - ngữ dụng bổ trợ của phát ngôn (ngữ cảnh giao tiếp, giả định nhận thức của người nghe, vị thế xã hội của các bên tham gia giao tiếp, và định hướng phản ứng hồi đáp). Tiểu kết chương khẳng định rằng trong phát ngôn có dạng câu ghép tiếng Việt, các tác tử tình thái đóng vai trò là phương tiện cấu tạo quan hệ cú pháp đồng thời mang nghĩa bổ sung, quy định hiệu lực tại lời của phát ngôn.

Chương 2: Vai trò của các tác tử tình thái trong câu ghép tiếng Việt

Chương 2 có dung lượng 40 trang, tập trung giải quyết cương vị ngữ pháp của câu ghép tiếng Việt và vai trò đa diện của các tác tử tình thái trong cấu trúc này.

Tác giả xác định cấu trúc cú pháp của câu ghép tiếng Việt và phân tích đặc điểm từ loại của các tác tử. Các tác tử không tồn tại đơn độc mà thường vận hành theo từng cặp liên từ, phụ từ hoặc đi kèm trợ từ chuyên dụng. Sự xuất hiện của chúng có ba tác động nền tảng:

  1. Tác động ngữ pháp: Định hình mô hình cấu trúc liên kết giữa các vế câu.
  2. Tác động ngữ nghĩa: Xác lập mối quan hệ logic - ngữ nghĩa (nguyên nhân, điều kiện, nhượng bộ, tăng tiến), kích hoạt các tiền giả định nhận thức, xác lập tính hiện thực (thực, phi thực, phản thực) cho mệnh đề.
  3. Tác động ngữ dụng: Đóng vai trò là chiến lược hành ngôn giúp chủ ngôn bộc lộ thái độ đánh giá chủ quan (tán đồng, bác bỏ, nuối tiếc, ép buộc, mỉa mai), định hướng lập luận và thiết lập hiệu lực mượn lời tác động đến người nhận tin.

Chương 3: Miêu tả ngữ nghĩa của một số cặp tác tử trong câu ghép tiếng Việt

Chương 3 có dung lượng 63 trang, là chương trọng tâm của công trình. Tác giả đi vào khảo sát, phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng cụ thể của 17 nhóm/cặp tác tử tình thái xuất hiện phổ biến trong cấu trúc phát ngôn câu ghép tiếng Việt.

STT Cặp tác tử tình thái Mô hình cấu trúc câu ghép Đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng và giá trị tình thái
1 Nếu - thì Nếu A thì B Tình thái nhận thức điều kiện - hệ quả; thiết lập giả định và xác định mức độ cam kết của người nói đối với khả năng xảy ra sự tình.
2 Hễ - thì/là và Cứ - thì/là Hễ A thì/là B; Cứ A thì/là B Biểu thị điều kiện mang tính quy luật, tính lặp lại tất yếu, hiển nhiên của hệ quả khi sự tình A xuất hiện.
3 Chỉ - (thì) mới và Có - mới Chỉ A (thì) mới B; Có A (thì) mới B Biểu thị điều kiện hạn định duy nhất, nhấn mạnh A là tiền đề bắt buộc và tất yếu để dẫn tới sự tình B.
4 Đã - thì Đã A thì B Tình thái đạo nghĩa hoặc nhận thức dứt khoát; xác nhận sự tình A đã là tiền đề thực tế thì B là hành động tất yếu phải thực hiện.
5 Giá - thì Giá A thì B Tình thái phản thực (contra-factive); biểu thị điều kiện trái ngược thực tế khách quan, bộc lộ thái độ nuối tiếc, mong ước không thành.
6 Bao giờ - thì Bao giờ A thì B Giả định mốc thời gian gắn với điều kiện phi thực, thường mang tính thậm xưng, ẩn dụ tạo hiệu lực biểu cảm văn hóa (như trong ca dao).
7 Dù - vẫn Dù/mặc dù/dẫu A vẫn B Tình thái nhượng bộ đối nghịch; người nói khẳng định ý chí quyết tâm thực hiện B bất chấp rào cản từ sự tình A.
8 Thà - còn hơn Thà A còn hơn B Đánh giá so sánh dựa trên thang giá trị; người nói chấp nhận sự tình bất lợi A để từ chối trạng thái tồi tệ hơn ở B.
9 Càng - càng Càng A càng B Tình thái tăng tiến tỷ lệ thuận; miêu tả sự biến chuyển tương ứng về mức độ và thang đo giữa hai sự tình theo thời gian.
10 Không những - mà còn; Đã - thì chớ Không những A mà còn B; Đã A thì chớ lại còn B Tình thái gia tăng, đánh giá sự việc vượt mức bình thường; sắc thái bất bình, chê trách hoặc nhấn mạnh tính bất thường.
11 Không phải - mà là; chứ không phải Không phải A mà là B; A chứ không phải B Hành vi bác bỏ, phủ định nhận định trước đó kết hợp với khẳng định tính chân thực của sự tình thay thế.
12 Không - thì cũng Không A thì cũng B Tình thái lựa chọn tối thiểu; thể hiện sự phỏng đoán hoặc định mức trong một phạm vi giới hạn chấp nhận được.
13 Chưa - đã; Đã - chưa Chưa A mà đã B; Đã A mà chưa B Đánh giá về tốc độ và tiến trình thời gian; biểu thị sự cập rập bất thường hoặc chậm trễ ngoài dự liệu của người nói.
14 Mới - đã; Đã - mới Mới A mà đã B; Đã A mới B Đánh giá khoảng cách thời gian ngắn ngủi bất ngờ giữa hai sự tình, hoặc nhấn mạnh điều kiện cần đáp ứng mới đạt kết quả.
15 Còn - đã; Đã - còn Còn A đã B; Đã A còn B Biểu thị sự dồn dập, chồng xếp các sự tình; gia tăng áp lực biểu cảm và thái độ phàn nàn hoặc ngạc nhiên của chủ ngôn.
16 Những tưởng - nào ngờ Những tưởng A nào ngờ B Biểu thị sự sụp đổ kỳ vọng nhận thức; sự đối lập hoàn toàn giữa dự đoán chủ quan ban đầu với thực tế khách quan phũ phàng.
17 Có thể - cũng có thể Có thể A cũng có thể B Tình thái nhận thức dao động; người nói đưa ra các khả năng phỏng đoán song song, hạ thấp mức độ cam kết về tính chân lý.

Các khảo sát ngữ liệu thực tế trong chương này chứng minh rằng sự lựa chọn tác tử tình thái trong câu ghép chính là phương tiện hành ngôn trực tiếp, phản ánh chiến lược lập luận và hệ thang độ đánh giá (lý tính hoặc cảm tính) của chủ ngôn đối với hiện thực đời sống.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp lý luận: Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu ý nghĩa tình thái một cách có hệ thống thông qua việc khảo sát, biện luận các tác tử như những phương tiện chuyên dụng biểu hiện ý nghĩa tình thái trong câu ghép tiếng Việt. Luận án làm sáng tỏ chức năng tải nghĩa của các liên từ, phụ từ và trợ từ trong mối quan hệ với chủ ngôn, vượt qua cách phân loại cơ giới thuần túy cú pháp của ngữ pháp truyền thống. Công trình kết hợp thành công lý thuyết tình thái học với lý thuyết hành vi ngôn ngữ của ngữ dụng học để giải thích cơ chế tương tác ngữ nghĩa của câu ghép trong ngôn ngữ đơn lập.
  2. Đóng góp thực tiễn: Kết quả khảo sát giúp người bản ngữ và người học tiếng Việt nhận diện chính xác các hàm nghĩa ngữ dụng, hiểu rõ nội hàm ngữ nghĩa và cơ chế tiền giả định của các mô hình câu ghép tiếng Việt. Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo cho việc chuẩn hóa cú pháp tiếng Việt và trực tiếp phục vụ công tác giảng dạy ngôn ngữ trong nhà trường.
  3. Giải pháp và đề xuất: Luận án kiến nghị đưa góc độ tiếp cận ngữ nghĩa - ngữ dụng của tác tử tình thái vào việc biên soạn giáo trình ngữ pháp tiếng Việt; đồng thời đề xuất tiếp tục mở rộng hướng nghiên cứu này sang các phương tiện liên kết ở cấp độ đoạn văn và văn bản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án thừa nhận:

  • Do giới hạn phạm vi đề tài, luận án chưa thể tiến hành khảo sát thực nghiệm chuyên sâu về các phương tiện ngữ âm (ngữ điệu, trọng âm câu) như một phương tiện độc lập biểu hiện tình thái trong câu ghép tiếng Việt, bởi công việc này đòi hỏi các trang thiết bị thực nghiệm âm học nghiêm ngặt trên cứ liệu lời nói sinh động.
  • Luận án tập trung chủ yếu vào loại hình câu ghép có tác tử hình thức (liên từ, phụ từ, trợ từ), chưa bao quát toàn diện các biến thể của câu ghép không dùng từ nối (câu ghép qua trật tự từ và ngữ điệu).
  • Ngữ liệu phân tích giới hạn chủ yếu ở ngôn ngữ viết thông qua tác phẩm văn học và báo chí giai đoạn 1996 - 2000, chưa bao hàm ngữ liệu khẩu ngữ hội thoại tự nhiên quy mô lớn.

Về hướng nghiên cứu tiếp, tác giả đề xuất:

  • Mở rộng phân tích thực nghiệm ngữ âm học đối với các cấu trúc câu ghép tiếng Việt trong giao tiếp khẩu ngữ.
  • Khảo sát sự vận hành của các tác tử tình thái trong các phong cách chức năng ngôn ngữ khác (chính luận, khoa học, hành chính).
  • Nghiên cứu cơ chế liên kết tình thái vượt bậc câu, hướng tới phân tích diễn ngôn và thi pháp văn bản.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, Ngôn ngữ học tiếng Việt: Tham khảo Chương 1 để nắm vững khung lý thuyết về tình thái học từ logic học đến ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học; tham khảo cách xây dựng phương pháp luận nghiên cứu hư từ tiếng Việt.
  • Giảng viên giảng dạy bộ môn Ngữ pháp tiếng Việt và Ngữ dụng học tại các trường đại học: Vận dụng tư liệu Chương 2 và Chương 3 để làm phong phú bài giảng về câu ghép, giúp sinh viên hiểu rõ câu ghép không chỉ là sự ghép nối cơ học các vế câu mà là một chỉnh thể ngữ nghĩa - hành vi.
  • Giáo viên ngữ văn phổ thông: Khai thác ngữ nghĩa chi tiết của 17 cặp tác tử trong Chương 3 để rèn luyện kỹ năng đặt câu, phân tích ngữ nghĩa tác phẩm văn học và sửa lỗi câu ghép cho học sinh.
  • Người làm công tác biên dịch và biên tập xuất bản: Sử dụng các miêu tả về tiền giả định và sắc thái đánh giá của các cặp tác tử (thà - còn hơn, những tưởng - nào ngờ, đã - thì chớ...) để chuyển dịch chính xác các sắc thái biểu cảm tế nhị của văn bản tiếng Việt sang ngoại ngữ và ngược lại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt tình thái khách quan và tình thái chủ quan như thế nào?
Luận án căn cứ vào mối liên hệ của nội dung phát ngôn: Tình thái khách quan thể hiện mối quan hệ giữa điều được thông báo với thực tế ở bình diện hiện thực tính hoặc phi hiện thực tính, là dấu hiệu bắt buộc của mọi phát ngôn và mang tính phi đánh giá. Tình thái chủ quan là mối quan hệ giữa người nói với điều được thông báo, phản ánh mức độ cam kết về tính xác thực của thông tin theo quan niệm cá nhân của người nói, chứa đựng thái độ đánh giá và không đồng nhất giữa các phát ngôn.

2. Tại sao các từ nối trong câu ghép tiếng Việt lại được luận án gọi là "tác tử tình thái"?
Bởi vì các từ nối (liên từ, phụ từ, trợ từ) không chỉ đảm nhiệm chức năng liên kết cú pháp thuần túy giữa các mệnh đề logic, mà chúng trực tiếp tham gia tổ chức nội bộ câu, quy định tiền giả định nhận thức, tạo lập ngữ nghĩa tình thái và đóng vai trò như phương tiện để người nói thực hiện các chiến lược hành ngôn, bộc lộ thái độ đánh giá chủ quan (khẳng định, bác bỏ, nuối tiếc, ép buộc) đối với sự tình.

3. Thao tác thay thế và cải biến được tác giả vận dụng nhằm mục đích gì?
Thao tác thay thế được dùng để phân tích và lý giải hiện tượng ngôn ngữ theo hướng đích của người nói và người nghe. Bằng cách thay thế một tác tử bằng các yếu tố đồng hệ hình (ví dụ thay giá bằng phải chi hoặc ước gì trong câu Giá còn sống, hai bố con mình sẽ bình luận về bản ai ca này), tác giả làm tường minh hóa ngữ nghĩa đích thực của cấu trúc, chứng minh rằng tác tử đó biểu đạt điều kiện phản thực đối lập với hiện thực và truyền tải cảm xúc nuối tiếc của chủ thể phát ngôn.

4. Khởi ngữ và tình thái ngữ trong câu tiếng Việt được luận án nhìn nhận ra sao?
Luận án dẫn chứng quan điểm của nhóm tác giả cuốn "Thành phần câu tiếng Việt" (1999) về định ngữ và tình thái ngữ (thật ra, té ra), đồng thời đối chiếu với quan niệm của Cao Xuân Hạo về khởi ngữ tình thái (có lẽ, lẽ nào) và ngữ đoạn phụ (lạ thay, như ai nấy đều biết). Luận án nhận định rằng dù mang tên gọi thuật ngữ khác nhau, các thành phần này đều là phương tiện ngữ pháp nằm ngoài cấu trúc vị ngữ tính cơ bản nhưng giữ chức năng then chốt trong việc biểu thị lập trường và thái độ đánh giá của người nói.

5. Nguồn cứ liệu thực tế của luận án được khai thác từ những tác giả và ấn phẩm cụ thể nào?
Ngữ liệu được trích xuất từ 24 nguồn tư liệu gồm các tác phẩm văn học của Hồ Chí Minh, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Thị Châu Giang, Nguyễn Thị Ngọc Tú; các tuyển tập Truyện ngắn hay các năm 1996, 1997, 1998, 1999; báo Văn nghệ (1996-2000), tạp chí Văn nghệ quân đội (1996, 1998) và tạp chí Tác phẩm mới (1998-2000).

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Ngô Thị Minh là công trình nghiên cứu hệ thống về phạm trù tình thái trong câu ghép tiếng Việt dưới góc độ kết hợp ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học. Bằng việc phân tích vai trò cấu tạo ngữ nghĩa của các tác tử liên kết, tác giả đã chứng minh rằng các từ nối trong câu ghép tiếng Việt hoạt động như những phương tiện hành ngôn trực tiếp phản ánh thái độ đánh giá của chủ thể phát ngôn. Công trình đã làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng của 17 nhóm cặp tác tử tiêu biểu dựa trên nguồn ngữ liệu văn học và báo chí phong phú, đóng góp tư liệu nghiên cứu cho lý luận ngôn ngữ học và công tác giảng dạy tiếng Việt.