CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN SINH XÃ HỘI 1. Các khái niệm * An sinh xã hội Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, để duy trì cuộc sống con người phải tham gia vào quá trình lao động sản xuất để tạo ra thu nhập nhằm ổn định cuộc sống cho mình và gia đình. Tuy nhiên, những vấn đề như bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp, mất việc làm, ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh,… đã làm cho con người gặp phải những khó khăn, rủi ro.
Cho nên, con người hiện đại ngày nay rất cần có các giải pháp phòng tránh và khắc phục các rủi ro để nhanh chóng ổn định cuộc sống của mình. Ở mỗi quốc gia có trình độ phát triển khác nhau sẽ có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề ASXH khác nhau và còn tùy thuộc vào cách thức tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện riêng của quốc gia mình. Thuật ngữ “An sinh xã hội” được sử dụng phổ biến từ khi Đạo luật năm 1936 ra đời ở Mỹ và sử dụng thuật ngữ trong Công ước Quốc tế; đến năm 1948 chính thức được đưa vào Hiến chương Liên Hợp Quốc và trở thành thuật ngữ phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng: ASXH là hình thức bảo vệ các thành viên của mình thông qua các biện pháp hiệu quả để có đủ khả năng vượt qua những khó khăn, hạn chế, những khủng hoảng về kinh tế - xã hội làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân bị ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế và trợ cấp xã hội cho các đối tượng (Nguyễn Hữu Hải, 2018, tr.
15 Hiệp hội An sinh quốc tế coi ASXH như là các thành tố của các chính sách có thể điều chỉnh nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của các người lao động trong bối cảnh có nhiều biến động về kinh tế, xã hội và nhân khẩu học (Nguyễn Hữu Hải, 2018, tr. Thuật ngữ này còn được hiểu là một chương trình của Chính phủ đề ra với mục đích giúp đỡ cho người dân gặp khó khăn trong cuộc sống (thất nghiệp, tai nạn, tàn tật, chết,…), nên ASXH được quan niệm là “Một hệ thống các chính sách hỗ trợ những người đối mặt (hoặc bị đe dọa) bởi sự thiếu thốn nguồn thu nhập (mà đó chính là khoản lương bổng) hoặc các khoản chi tiêu đặc biệt khác” (TS. Trần Hoàng Hải, TS. Lê Thị Thúy Hương, 2011, tr.
Ở nước ta, lĩnh vực ASXH được nhiều nhà nghiên cứu, khoa học, quản lý và tổ chức chính trị - xã hội rất quan tâm. Trước tiên là quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam nói về ASXH tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001): “Tiến tới áp dụng chế độ bảo hiểm cho mọi người lao động, mọi tầng lớp nhân dân. Kết hợp sự trợ giúp của Nhà nước với việc phát triển các quỹ từ thiện, quỹ xã hội, quỹ đền ơn đáp nghĩa, nhằm giúp đỡ có hiệu quả người được hưởng chính sách xã hội, nạn nhân chiến tranh, thiên tai, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật và người già không nơi nương tựa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr. Giáo sư Hoàng Chí Bảo coi ASXH là việc đảm bảo an toàn cho cuộc sống của con người từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho sự phát triển con người và xã hội.
Có bốn phương diện hình thành nên chính sách ASXH đó là bảo hiểm xã hội; trợ cấp và ưu đãi; xóa đói giảm nghèo; phúc lợi xã hội (Hoàng Chí Bảo, 2008, tr. Để hiểu rõ hơn về bản chất của khái niệm ASXH, nhiều tác giả đã đưa ra hai cách hiểu theo nghĩa rộng và hẹp: “Theo nghĩa rộng: an sinh xã hội là sự đảm 16 bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội. Theo nghĩa hẹp: an sinh xã hội là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch họa” (Mai Ngọc Cường, 2009, tr. Để làm rõ hơn cách hiểu này thì có một quan niệm khác như sau: “Theo nghĩa rộng, an sinh xã hội là toàn bộ các biện pháp của nhà nước, cộng đồng, cá nhân hướng tới toàn cầu.
Đối tượng bao phủ theo nghĩa này bao gồm toàn bộ xã hội. Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội hướng tới đảm bảo tối thiểu cho mục tiêu mưu sinh của nhóm đối tượng yếu thế, rủi ro hay thiệt thòi” (Phạm Quang Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Hiên, Nguyễn Anh Dũng, 2009, tr. Trên cơ sở nghiên cứu những quan điểm của cá nhân, tổ chức khác nhau về ASXH, qua đó có thể nhận định rằng, ASXH là việc Nhà nước và xã hội sử dụng các công cụ, biện pháp nhằm hạn chế, phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho các nhóm đối tượng trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân thất nghiệp, tuổi già, ốm đau, thương tật, thai sản, tai nạn lao động,…; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các đối tượng trong xã hội. * Chính sách an sinh xã hội Để hiểu về khái niệm “chính sách an sinh xã hội”, chúng ta cần hiểu về khái niệm “chính sách”.
Chính sách được hiểu là tập hợp những chủ trương, chính sách và hành động về phương diện nào đó của chính phủ, nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó (Bách khoa toàn thư mở, Wikipedia). 17 Đảng ta đưa ra quan điểm về chính sách ASXH là một hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro, khó khăn và tác động tiêu cực từ sự ảnh hưởng của kinh tế - xã hội và môi trường; góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân (Phùng Phú Hữu, Nguyễn Văn Đặng, Nguyễn Viết Thông, 2016, tr. Trong cuốn An sinh xã hội Việt Nam hướng tới 2020, PGS.TS Vũ Văn Phúc cho rằng “Chính sách an sinh xã hội là một chính sách xã hội cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội (Vũ Văn Phúc, 2012, tr. Còn theo tác giả Nguyễn Văn Chiển thì “chính sách an sinh xã hội là những biện pháp bảo vệ của nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan thông qua các chính sách BHXH, BHYT BHTN, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội” (Nguyễn Văn Chiển, 2014, tr.
Tác giả Nguyễn Minh Trí có quan điểm về chính sách ASXH là “hệ thống các chính sách của Nhà nước và các nguồn lực xã hội nhằm phòng ngừa, hạn chế, khắc phục những rủ ro do tác động bất thường về kinh tế - xã hội, môi trường, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội” (Nguyễn Minh Trí, 2018, tr. Như vậy, chính sách ASXH là hệ thống các chính sách can thiệp của Nhà nước, chủ yếu thông qua các hình thức bảo hiểm: BHXH, BHYT, BHTN và trợ giúp xã hội, giải quyết việc làm, chính sách cho người có công với cách mạng và sự hỗ trợ của tổ chức hay cá nhân nhằm giảm mức độ khó khăn và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ, tự an sinh của người dân và cộng đồng trước những 18 rủi ro, nhằm tiến tới việc bảo đảm sự ổn định, phát triển và hướng tới công bằng xã hội, tiến bộ xã hội. * Phương thức lãnh đạo Khái niệm “Phương thức lãnh đạo” được Đảng ta sử dụng chính thức lần đầu tiên trong Hội nghị Trung ương 6, khóa VI vào tháng 3-1989. Sau đó, khái niệm này được đề cập trong Thông báo số 172 của Bộ Chính trị khóa VI (tháng 11-1989) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (tháng 6-1991).
Từ sau Đại hội VII trở đi, trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam, khái niệm “phương thức lãnh đạo của Đảng” được dùng phổ biến và trở thành quen thuộc. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, phương thức lãnh đạo là “hệ thống phương pháp, hình thức, biện pháp mà Đảng chính trị vận dụng để tác động vào các tổ chức thuộc hệ thống chính trị và các lực lượng trong xã hội nhằm đạt được những yêu cầu, mục tiêu và nội dung lãnh đạo mà Đảng chính trị đề ra” (Từ điển Bách Khoa toàn thư, 2003, tr. Tác giả Phạm Văn Khánh cho rằng “Phương thức lãnh đạo của Đảng nói chung là cách thức mà Đảng tác động vào các đối tượng bị lãnh đạo để thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của mình” (Phạm Văn Khánh, 1998, tr. Với nội hàm này thì phương thức lãnh đạo của Đảng có tính lịch sử và luôn phải đổi mới không ngừng bởi vì các đối tượng bị lãnh đạo cũng phát triển không ngừng; ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì phương thức lãnh đạo sẽ khác nhau về đặc điểm, tính chất và đặc thù của nó.
“Phương thức lãnh đạo” không hoàn toàn đồng nhất với “phương thức hoạt động”, nhưng nó là một nội dung chủ yếu của phương thức hoạt động của Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền. Khi nói phương thức lãnh đạo thì không tách rời nội dung lãnh đạo và được đặt trong mối quan hệ biện chứng 19 với tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành, phong cách công tác và lề lối làm việc của hệ thống tổ chức, của mỗi người cán bộ, đảng viên, công chức. Một phương thức lãnh đạo đúng đắn, phù hợp sẽ bảo đảm thực hiện đúng định hướng chính trị đề ra, vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cả hệ thống chính trị.