Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÙNG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ TRONG GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA CHO TRẺ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới 1.1 Nghiên cứu về phương pháp dùng TC ĐVTCĐ Hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo đặc biệt là TC ĐVTCĐ luôn là đề tài mà các nhà nghiên cứu quan tâm.
Đối với trẻ em, hoạt động vui chơi giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Vào thế kỉ XX, J.Piaget (1963) cho rằng: Trẻ nhỏ có vai trò tích cực trong sự phát triển nhận thức của mình thông qua sự tương tác qua lại tích cực với cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển khả năng suy nghĩ và sự giao tiếp tích cực của trẻ, vai trò của giáo viên là khai thác các tình huống và các vật liệu trong môi trường để khuyến khích trẻ chơi (Phan Trọng Ngọ, 2003). Nhà giáo dục K.Usinxki (Nga) rất đề cao đến vai trò của trò chơi tập thể đối với trẻ mẫu giáo.
Thông qua trò chơi, trẻ dễ dàng lĩnh hội một số kinh nghiệm văn hóa – xã hội loài người (Nguyễn Thị Hòa, 2011, tr167).Crupxkaia chỉ ra rằng: “Trò chơi chính là phương thức nhận biết thế giới, là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lý. Trẻ không chỉ học trong lúc học, mà còn học cả trong lúc chơi. Trẻ em học cách tổ chức, học nghiên cứu cuộc sống. Trong khi chơi, trẻ tập khắc phục khó khăn, nhận thức hoàn cảnh xung quanh và tìm ra được lối thoát đúng đắn” (Nguyễn Thị Hòa, 2011,tr167).
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học macxit và các nhà tâm lý học phương Tây hiện đại đều khẳng định rằng trò chơi của trẻ mang bản chất xã hội. “Bản chất xã hội được thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện của trò chơi (cả về phương diện lịch sử xã hội lẫn phương diện lịch sử phát triển của cá nhân), về chủ đề chơi, nội dung chơi và hình thức biểu hiện” (Đinh Văn Vang, 2009) Luan van 8 Đồng thời, Đ. Enconhin cho rằng lịch sử phát triển của trò chơi gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người và sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong hệ thống các mối quan hệ xã hội. TC ĐVTCĐ xuất hiện, khi trẻ chơi trò chơi này, chúng được thỏa mãn nguyện vọng của mình là vươn tới cuộc sống xã hội người lớn, được hành động và đối xử như người lớn thật sự (Đinh Văn Vang, 2009, tr.
Khi phân tích nguồn gốc, lịch sử phát triển của trò chơi trẻ em một lần nữa tác giả Đ. Ecônhin khẳng định: “Sự xuất hiện của trò chơi không phải bắt nguồn từ tác động của các động lực bên trong mang tính chất bản năng, bẩm sinh mà bắt nguồn từ điều kiện xã hội trong cuộc sống của trẻ” (Levitov H.62) Theo Vygotsky vui chơi của đứa trẻ không chỉ là một quá trình lặp lại. Trong khi nó bắt đầu trong những tương tác xã hội với người lớn, đứa trẻ sớm thể hiện chơi độc lập, giả vờ và sáng tạo (Collete Gray & Macblain, 2014, tr. Nhìn chung, những nhận định trên nói về vai trò của trò chơi trọng tâm là TC ĐVTCĐ chính là một phương tiện giáo dục và nhằm mục đích phát triển toàn diện cho trẻ mẫu giáo, và đặc biệt trò chơi ở đây được coi là phương tiện giáo dục đạo đức cho trẻ, bởi vì thông qua chơi hình thành cho trẻ một số phẩm chất đạo đức cần thiết phù hợp với xã hội như: trẻ chơi cùng nhau, chia sẻ và hợp tác với nhau.
Đặc biệt, một số quan điểm còn lại thì đề cặp đến nội dung của trò chơi, để có thái độ tốt, hành vi văn hóa tốt thì nội dung chơi phải lành mạnh.2 Nghiên cứu về giáo dục hành vi văn hóa Đại diện cho học thuyết hành vi là B. Skinner (1953) - nhà tâm lí học người Mĩ đã nêu lên quan điểm của mình: Nếu người lớn xây dựng môi trường đáp ứng hành vi của trẻ thông qua điều kiện được thực hiện bởi thao tác, hành vi của trẻ sẽ dễ dàng nảy sinh, lúc này, nếu người lớn khen thưởng trẻ sẽ giúp củng cố hành vi của trẻ. Ngược lại, khi trẻ thực hiện hành vi nào đó mà bị người lớn khiển trách, hành động đó sẽ bị giảm dần. Tất cả hành vi của trẻ đều được kiềm chế bởi tác động bên ngoài gọi là: khen thưởng và củng cố.
Quá trình này được thực hiện một cách liên tục có hệ thống (Phan Trọng Ngọ, 2003). Nghĩa là, đứa trẻ được thể hiện cử chỉ, điệu bộ của mình trong môi trường mà người lớn tạo ra và hành vi đúng hay sai đều được sự đánh giá và củng cố một cách Luan van 9 đúng lúc từ GV. Hành vi của trẻ phù hợp thì GV khuyến khích, ngược lại những hành vi trẻ thể hiện mà mang tính tiêu cực sẽ được điều chỉnh sao cho hợp lý, tránh để trẻ thụ động không dám thể hiện hành vi ra bên ngoài trong quá trình hoạt động. Thuyết nhận thức xã hội của Albert Bandura (1986) cho rằng: Tất cả mọi nền văn hóa, trẻ em học và phát triển bằng quan sát những người có kinh nghiệm hơn gắn với các hoạt động quan trọng trong văn hóa.
Nghĩa là giáo viên và phụ huynh giúp cho trẻ thích nghi và tiếp xúc với nhiều hoàn cảnh mới và tình huống mới để trẻ có thể tiếp thu và ghi nhớ những hành vi của người khác cũng như giải quyết những hậu quả của những hành vi không mong muốn (Phan Trọng Ngọ, 2003). Montessori nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Bà thích đứa trẻ thực hành hơn là những trò chơi giàu tưởng tượng và giả vờ. Theo Montessori chia sẻ: “Chúng bắt đầu hiểu tình cảm của những người khác, và áp dụng những hành vi và hành động của chúng cho phù hợp với những tình cảm này.
Hơn nữa, chúng đang học tương tác với những người xung quanh chúng, kết bạn và thích nghi với tính phức tạp của các tương quan xã hội bên ngoài gia đình chúng (Collete Gray & Macblain, 2014, tr. Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc việc sử dụng TC trong giáo dục HVVH. Ngoài tạo ra môi trường chơi, mà cần chọn những trò chơi nào nhằm giáo dục những nội dung hành vi văn hóa nào. Các nghiên cứu ở Việt Nam 1.1 Nghiên cứu về TC ĐVTCĐ Nguyễn Ánh Tuyết đã nghiên cứu rằng: “Trẻ em có thể tham gia vào rất nhiều trò chơi và hầu hết trò chơi đều có tác động đến trẻ về nhiều mặt (thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ) nhưng trong việc giáo dục đạo đức, hình thành hành vi văn hóa (HVVH) cho trẻ thì loại trò chơi đóng vai theo chủ đề là có hiệu quả nhất”(Nguyễn Ánh Tuyết, 2006).
Dẫn theo Đinh Văn Vang có viết: “Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Việt Nam, trò chơi phản ánh sinh hoạt là trò chơi đặc trưng của trẻ em dưới ba tuổi, trò chơi đóng vai theo chủ đề là trò chơi đặc trưng của trẻ mẫu giáo” (Đinh Văn Vang, 2009). Như vậy, trò chơi đóng vai theo chủ đề là dạng hoàn chỉnh Luan van 10 của trò chơi giả bộ. Trong TC ĐVTCĐ, trẻ mô phỏng lại toàn bộ cuộc sống đời thường của người lớn một cách trọn vẹn, trò chơi đã bắt đầu giúp cho trẻ định hướng hành vi đúng cho bản thân, cách ứng xử và chuẩn mực khi tham gia vào xã hội. Bên cạnh đó, Lê Minh Thuận còn cho rằng thông qua vai chơi, trẻ dễ dàng hướng tới cái đẹp trong hành vi của các bạn, dễ tiếp thu cái đẹp trong quan hệ người với người.
Thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ dễ dàng phục tùng các quy tắc đạo đức và hình thành ở trẻ các phẩm chất tốt như cách ứng xử với bạn bè. Tác giả cho rằng: “Vui chơi là một mắt xích nối liền giữa trẻ với quy tắc đạo đức, vì vui chơi giúp cho quá trình hình thành các phẩm chất đạo đức diễn ra dễ dàng hơn”(Lê Minh Thuận, 1989). Qua một số nhận định trên cho thấy rằng, vai trò của phương pháp dùng TC ĐVTCĐ trong quá trình giáo dục HVVH cho trẻ rất quan trọng. Trong trò chơi ĐVTCĐ trẻ được chọn vai chơi, nội dung chơi, thể hiện những hành vi, cử chỉ, lời nói văn hóa.
Nên việc giáo viên đưa nội dung chơi lành mạnh rất là quan trọng trong việc giáo dục trẻ. Tóm lại, phương pháp dùng TC ĐVTCĐ của GV phải được nghiên cứu sâu hơn một mặt để hiểu rõ tầm quan trọng của phương pháp này, mặt khác vận dụng phương pháp này như thế nào trong giáo dục HVVH cho trẻ được tốt hơn.2 Nghiên cứu về giáo dục hành vi văn hóa Lấy ý kiến từ một tạp chí khoa học ĐHSP TP. HCM, Trần Nguyễn Nguyên Hân nói về thuyết học tập xã hội của A.Bandura - nhà tâm lí học người Canada, đã đưa ra nhận định sau: Dù trẻ không nhận được sự củng cố trực tiếp nhưng thông qua quá trình quan sát người lớn thực hiện hành động (củng cố gián tiếp), hành động mới sẽ được hình thành. Hành động của trẻ không phải được học tập thông qua phản ứng hình thành nhờ tác động môi trường một cách đơn giản mà được quyết định bởi phản ứng và phân tích của cá nhân về tình huống.
Theo đó, trẻ không bắt chước máy móc hành Luan van 11 động của người khác mà thông qua phân tích cá nhân về tình huống, mỗi trẻ thực hiện hành vi khác nhau (Trần Nguyễn Nguyên Hân, 2016). Nhận định này nói lên mỗi đứa trẻ khác nhau thì sẽ thể hiện hành vi khác nhau trong quá trình hoạt động. Đứa trẻ không bắt chước hành động của người lớn mà sẽ thể hiện theo hành động cũng như hành vi mà đứa trẻ cho là đúng và phù hợp với tình huống diễn ra. Trong Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đưa ra các chỉ số thể hiện thể hiện sự an ủi và chia vui với người thân và bạn bè, thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh, thích chia sẻ cảm xúc, kinh nghiệm, đồ dùng, đồ chơi với những người gần gũi, có thói quen chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi và xưng hô lễ phép với người lớn, nhận xét được một số hành vi đúng hoặc sai của con người đối với môi trường, có hành vi bảo vệ môi trường trong sinh hoạt hàng ngày, sử dụng một số từ chào hỏi và từ lễ phép phù hợp với tình huống, không nói tục, chửi bậy.