chương I] cũng SVTH: Nguyên Cảm Hường Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. TRINH VĂN BIEU như chương IV khi quan sat được sự biến đổi thi cỏ thé suy ra quy luật chung. tir đó cỏ thể suy dién các quy luật khác và kiểm chứng lại bằng thực nghiệm. Khi đỏ sử dụng phương pháp đặt vấn đẻ và giải quyết vấn đê.
# Đối với các cơ sở khó khăn Chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy học tích cực như đã nêu ở trên. Đặc biệt sử dụng triệt để tranh, ảnh, sơ 48, mô hình.VI % Đối với các cơ sở thuận lợi Nội dung hai ch là các tính chất lí, hóa và cách điều chế của các nguyễn tổ cụ thê cùng với hợp của chúng. GV nên sử dụng thường xuyên phương pháp đảm thoại gợi mở, phát hiện để HS chủ động khám phá kiến thức mới. Chú ý tận dụng các thí nghiệm và sử dụng thí nghiệm hóa học theo phương pháp nghiên cứu, tạo điều kiện cho HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới.
Kết hợp sử dụng phương pháp đàm thoại phát hiện. Ví dụ: Trong bài Ozon, từ cấu tạo của phân tit ozon có một liên kết cho - nhận không bén nén suy ra dễ bị phân hủy thành oxi nguyên tử — có tỉnh oxi hóa mạnh hơn oxi (phương pháp đàm thoại phát hiện) Tuy nhiên có thé tiền hành thi nghiệm ozon tác dụng với dung dịch KI và thử kết quả băng tinh bột và phenolphtalein cho thấy ozon oxi hóa được KI suy ra ozon có tỉnh oxi hóa mạnh hơn oxi (phương pháp nghiên cứu) % Đối với các cơ sở khó khăn Sử dụng triệt để các thí nghiệm và tiến hành chủ yếu phương pháp đàm thoại gợi mở hoặc phương pháp thí nghiệm chứng minh. c) Chương VII Nội dung kiến thức của chương là các khái niệm mới về lý thuyết phản ứng hóa học và các yếu tố ảnh hưởng. Việc hình thành khái niệm là khó khăn nên các tác giả SGK đã có gắng giới thiệu các khái niệm trên cơ sở các thí nghiệm hóa học.
Vì thế GV nên sử dụng triệt để các thí nghiệm và tiến hành chủ yêu phương pháp dam thoại gợi mở hoặc phương pháp thí nghiệm chứng minh. CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG HÓA NGƯỜI HỌC 1. Phân biệt dạy học hướng vào người học và dạy học truyền thống Dạy học hướng vào người học: Dạy học hướng vào người học còn có cách gọi khác trước đây la “Day học lây học sinh làm trung tâm”. Người học giữ vai trò chủ động, tích cực trong quá trình học tập để khám phá ra "cái chưa biết” với sự hợp tác của cộng đồng các chủ thể (lớp học).
Có những đặc trưng cơ bản sau: SITH: Nguyễn Cam Hưởng Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. TRINH VAN BIÊU - Tro: lả chủ thé của hoạt động Người học không còn thụ động nghe giáo viên giảng va truyền đạt kiến thức ma học tích cực bang hành động của chính minh, tức là người học tự mình tìm ra “cdi chưa biết”. "cái cân khám phá”, tự minh tìm ra kiên thức, chân lí. Người học không phai được đặt trước những kien thức cỏ sẵn ma được đặt trước những tinh hudng cỏ van dé pt qua trình học tập hay cụ thê trong cuộc sông hang ngay.
Những cai gan gui. thực tế xung quanh các em chính là động lực để cho các em tim tỏi.chinh phục cho băng được. Chang hạn như: Tại sao khi mua thi thường co sam. hay là nước Javel sao lại tây trăng được quân áo.
vả còn rat nhiều, rat nhiều điều ma các em còn muốn biết hơn nữa khi đứng trước cuộc sống võ củng phong phú này. Qua qua trình chủ động. tự lực lĩnh hội kiến thức thì các tri thức và phương pháp mà học sinh đã tự khám phá ra không dập theo một khuôn mẫu nảo. nỏ hoàn toàn mới, do đó hoạt động tự lực đi tìm cái chưa biết mang tinh chất sang tạo đôi với học sinh, _ Tuy nghiên.
không có con đường nào bằng phẳng cả nhưng những khó khăn. sai lắm mac phải trong quá trình tự mình đi tìm cái chưa biết chi là những sự cô đề gid người học hiểu đầy đủ chân lí hơn và nắm được cách tìm ra chân lí “Học một biết mười” chỉnh là học cách học, cách làm, cách đặt và giải quyết vấn đẻ. cách xử lí các tỉnh huông, cách tim ra chân lí, phát huy tiềm năng tự học sáng tạo trong mỗi con người. người học đã học tích cực bằng hành động của mình.
“Hanh dé học” nhằm mục đích “Hoc để hành", “Hoc với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học võ ích. Hanh ma không học thì hành không trôi chảy”(Hồ Chí Minh), “Cách tốt nhất dé hiểu là làm" (Kant, nhà triết học Đức), “suy nghĩ chính là hành động” (J. Và tất nhiên, kiến thức của người học tự mình tìm ra dễ mang tính chủ quan.
có thể chưa phải là kiến thức khoa học. lớp học sẽ giúp cho người học khắc phục một phan quan trọng những nhược điểm, thiểu sót đó. - Lớp: lớp học là cộng đồng các chủ thẻ, là thực tiễn của xã hội ngảy nay vả cả ngày mai của người học ở ngay trong nhà Lớp học được tô chức nhằm mục địch giáo dục, làm môi trường trung gian giữa thây và trò. Trong thời đại ngày nay.
mọi hoạt động không ít thì nhiều có tính phụ thuộc lẫn nhau và do đó muốn lên tại và phát triển đòi hỏi chúng phải biết hòa nhập - hợp tác. [loạt động giáo dục diễn ra trong môi trường xã hội - lớp học cũng vậy khong thẻ nao la một hành động cá nhân thuần túy ma cũng phải la một hành động hợp tác. “Suy nghĩ tức là hanh động", “Hành động tức lả hợp tác". Kiên thức vừa la kết qua hành động của bản thân người học vừa là sản phẩm của xã hội (lớp học) trước khi trở thành thật sự khoa học.
giao tiếp xã hội, học cách sóng không thé học một mình riêng lẻ được mà phải học giao tiếp ngay trong cuộc sống xã hội cũng như muốn biết bơi thì phải nhảy xuống nước. Lớp học là nơi giao tiếp thường xuyên mặt đối mặt. giữa trò va trỏ. trò va thay và phái được bố trí lại theo không gian hình tròn hay hình chữ U dẻ biêu tượng cho vai trò chủ thể trung tâm của người học vả môi quan hệ thầy - trỏ SVTH- Nguyễn Cẩm Hưởng Trang 8 Khoa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
TRINH VĂN BIEU mới. Sự bo tri phòng học như thé thi thật sự ở Việt Nam ta chưa thực hiện được va đây cũng lả một yếu 16 lam hạn chế đi tính tích cực cho người học vi thế ma phương phúp nảy tới nay vẫn còn ít được vận dụng một cách đúng nghĩa của nó. Nếu như phương pháp nảy thành công thì chúng ta sẽ tạo ra được một đội ngũ có nang lực. tự tin và đây bản lĩnh.
Bởi vì thông qua việc trình bay bảo vệ sản pham của mình ở tập thê lớp học, trao đổi , tranh luận với các bạn củng lớp thì kiến thức chu quan của người học mới giảm bớt được phân chủ quan. tăng thêm tính khách quan khoa học đồng thời tạo cho người học có cơ hội giao tiếp hình thành các kĩ năng, các phương pháp giải quyết vấn đề.Tỏ chức lớp học như thé cũng tạo cho việc học bạn, hợp tác với các ban trở nên dé dàng “Hoc thầy không tẩy học bạn”, từ đó mà người học mới có thê tự nâng mình lên trình độ mới. Học bạn là bước đầu cần thiết cho người học “biết học mọi người. mọi lúc, mọi thứ, bang mọi cách” tức là xã hội hóa việc dạy và học.
cả cá nhân ca cộng déng các chủ thé có thể gặp phải những van dé nan giải. những tình huông khong xử lí được, những cuộc tranh luận không tải nào ket luận được. những wi thức mới chưa ai biết đến,.thì phải nhờ đến thay vi "Không thay dé may lam nên” ma! - Thay : tự nguyện từ bỏ vai trò chủ thé Hệ thông day và học không xoay quanh van đề thầy giáo nữa ma xoay quanh trung tâm và nhu cầu người học. Nói như vậy phải là hạ thap đi uy tin của người thầy mà ở đây đòi hỏi thầy phải hoạt động nhiêu hơn nữa.
trau dồi kiến thức. nắng cao năng lực để định hướng, đạo diễn cho học sinh tự mình khám phả ra kiến thức cùng với cách tìm ra kiến thức. Người giáo viên giỏi là người dạy cho học sinh phương pháp chứ không phải là kiến thức. Trong quá trình người học vừa tự mình hành động vừa hợp tác với bạn để tìm ra kién thức, chính thầy giáo là người định hướng cho cá nhân hành động đồng thời cũng là người đạo diễn, tổ chức tập thé lớp giúp cho kiến thức cá nhân tự tìm ra mang tính xã hội, khách quan, khoa học hơn.
Cuối cùng khi cá nhân va ca tập thé lớp đứng trước những tranh luận khoa học chưa ngã ngữ. lúc đó vai trò không thé thay thế được của người thầy là vai trò người trọng tài khoa học. Thay là người kết luận có tính chất khang định về mặt khoa học, giúp người học xử lí đúng đắn các tình huông phức tạp nôi lên trong quá trình hoạt động học tập. thầy là người đạo diễn, tổ chức cho trò biết cách hanh động và hợp tác với các bạn và thấy để tự mình khám phá ra chân lí cùng với cách tìm ra và ứng dụng chân lí trong cuộc sống, nhằm mục đích duy nhất là hình thành và phát triển nhản cách con người lao động tự chủ, năng động va sang tạo.
có năng lực giải quyết van đẻ thực tiễn. có năng lực tự học sang tạo. - Tự đánh giá: [rong quá trình tự mình tìm ra kiến thức, người học tạo ra một sản phẩm giáo dục ban dau, có thé là chưa chính xác, chưa khoa học. Sau khi trao đôi.
hợp tác với các bạn và dựa vào kết luận của thây, người học tự đánh giá lại sản phâm ban đầu cua mình. tự sữa chữa những lỗi làm mắc phai trong sản phẩm đỏ, tự rút kinh SVTH: Nguyễn Cảm Hường Trang 9 Khóaluận tốt nghiệp GVHD: TS. TRINH VĂN BIEU nghiệm về cách học, cách giải quyết vấn dé va tự điều chỉnh, ty hoan chỉnh thành một sản phẩm tiền bộ hơn sản pham ban dau, một sản phẩm khoa học. Quả trình đạy và học theo phương pháp lấy người học làm trung tâm với bốn đặc trưng cơ bản trên đây là một hệ điều khiển kín theo qui tắc hộp trắng (T)——> (C)—— (K) (T) : tác nhân - thay giáo (C) : chủ thể - học sinh (K) : khách thể - kết quả [rong đó sự thống nhất hữu cơ giữa tác nhân.