Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Hóa học của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Tuyết (ngành Sư phạm Hóa học, chuyên ngành Phương pháp giảng dạy, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, năm 2010) được triển khai trong bối cảnh toàn ngành giáo dục thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức. Yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục phổ thông là phải chuyển từ lối truyền thụ thụ động sang phát triển các phẩm chất và năng lực người học: tư duy độc lập, năng lực giao tiếp, khả năng làm việc tập thể và tính thích ứng cao.

Cơ sở thực nghiệm tâm lý học nhận thức được tác giả trích dẫn làm điểm tựa thực tiễn: người học chỉ ghi nhớ được khoảng 5% nội dung kiến thức qua việc đọc sách, 15% qua nghe giảng thuần túy, 20% qua quan sát hình ảnh, 25% khi phối hợp nghe và nhìn, 55% thông qua trao đổi thảo luận, 75% khi trực tiếp thực hành hành động và đạt mức ghi nhớ 90% khi có cơ hội giảng giải lại cho người khác. Môn Hóa học ở trường trung học phổ thông (THPT) đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa tư duy lý thuyết trừu tượng và thực nghiệm trực quan. Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm, đặc biệt là phương pháp dạy học theo nhóm, trở thành đòi hỏi cấp thiết.

Tác giả xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát là khảo sát cơ sở lý luận, tìm hiểu thực trạng, xây dựng quy trình thiết kế bài dạy và kiểm chứng hiệu quả của phương pháp dạy học theo nhóm trong môn Hóa học nhằm nâng cao chất lượng học tập và năng lực tư duy cho học sinh THPT.

Đề tài đặt ra 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu, xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
  2. Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng hoạt động nhóm trong dạy học Hóa học ở các trường THPT.
  3. Thiết kế một số giáo án môn Hóa học lớp 10, 11 và 12 (chương trình chuẩn/ban cơ bản) theo phương pháp dạy học nhóm.
  4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại các trường phổ thông để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của phương pháp.
  5. Tổng kết, rút ra các bài học kinh nghiệm sư phạm, đưa ra kết luận và đề xuất kiến nghị.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học môn Hóa học lớp 10, 11, 12 ban cơ bản tại trường THPT.
  • Đối tượng nghiên cứu: Việc sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm trong dạy học môn Hóa học lớp 10, 11, 12 ban cơ bản.
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn áp dụng phương pháp dạy học theo nhóm vào một số tiết học thuộc chương trình Hóa học lớp 10, 11, 12 ban cơ bản tại 4 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh: THPT Nguyễn Công Trứ, THPT Nguyễn Chí Thanh, THPT Vĩnh Lộc và THPT Hoàng Hoa Thám.
  • Giả thuyết khoa học: Nếu vận dụng một cách sáng tạo và có hiệu quả phương pháp dạy học theo hoạt động nhóm thì sẽ nâng cao được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn Hóa học ở trường THPT.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận và pháp lý

Tác giả hệ thống hóa các căn cứ pháp lý và định hướng đổi mới phương pháp dạy học của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (tháng 1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (tháng 12/1996), Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 28.2 quy định phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, bồi dưỡng phương pháp tự học và khả năng làm việc theo nhóm), Chỉ thị số 14/1999/CT-BGDĐT và Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001–2010.

Về mặt lý luận dạy học, đề tài tiếp cận khái niệm dạy học theo nhóm (dạy học hợp tác) với tư cách là hình thức tổ chức lớp học thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian nhất định, ở đó học sinh tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập dưới sự chỉ dẫn của giáo viên. Khóa luận vận dụng khung lý thuyết của Manuel Bueucousejo Garcia về 6 đặc trưng của thảo luận nhóm: cảm giác phụ thuộc lẫn nhau có tính tích cực, tương tác liên thông đa chiều, giao tiếp phi hình thức, phân định vai trò rõ ràng, tạo lập bầu không khí học tập cởi mở và tiếp nhận ý tưởng phản hồi đa phương diện.

Về mặt bộ môn, nghiên cứu phân tích tính đặc thù của phương pháp nhận thức Hóa học: quá trình chuyển hóa từ phương pháp nhận thức khoa học của nhà hóa học sang phương pháp dạy học của học sinh thông qua xử lý sư phạm. Đối tượng của hóa học là chất và cấu tạo chất vi mô (phân tử, nguyên tử, ion, electron) vốn không quan sát được bằng mắt thường, đòi hỏi phải phối hợp chặt chẽ giữa thí nghiệm trực quan và thao tác tư duy trừu tượng, sử dụng mối quan hệ nhân quả giữa cấu tạo và tính chất làm công cụ nhận thức.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận phối hợp 4 nhóm phương pháp nghiên cứu sư phạm:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học hóa học và các văn bản chỉ đạo của ngành giáo dục.
  • Phương pháp điều tra thực tiễn: Thiết kế và phát phiếu khảo sát gồm 13 câu hỏi trắc nghiệm kết hợp đóng - mở để tìm hiểu thực trạng dạy học nhóm của học sinh THPT.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức giảng dạy đối chứng tại 4 trường THPT với hệ thống giáo án đã biên soạn, tiến hành các bài kiểm tra đánh giá ngắn (10 phút, 15 phút, 20 phút) để thu thập dữ liệu định lượng.
  • Phương pháp thống kê toán học: Ứng dụng lý thuyết xác suất và thống kê trong nghiên cứu khoa học giáo dục để xử lý kết quả điểm số: tính điểm trung bình ($\bar{X}$), lập bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích và dựng đồ thị đường lũy tích so sánh giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

  • 500 phiếu điều tra phát ra cho học sinh tại 10 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh (thu về 474 phiếu hợp lệ).
  • Kết quả học tập và bài kiểm tra định kỳ của học sinh tại các lớp thực nghiệm và đối chứng thuộc 4 trường THPT: Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Chí Thanh, Vĩnh Lộc, Hoàng Hoa Thám trong năm học 2009–2010.
  • Sách giáo khoa, sách giáo viên Hóa học 10, 11, 12 ban cơ bản do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này tổng kết lịch sử vấn đề nghiên cứu từ các công trình khóa luận trước đó tại Khoa Hóa học - Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (các đề tài của Châu Thủy khóa 2005–2009, Mai Ánh khóa 2005–2009, các đề tài khóa 2003–2007 và 2004–2008 về dạy học nhóm kết hợp công nghệ thông tin và đóng vai). Tác giả làm rõ mục đích, chức năng, ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học nhóm trong trường phổ thông.

Về mặt kỹ thuật sư phạm, chương 1 phân loại chi tiết các hình thức dạy học nhóm:

  • Theo nhiệm vụ: Thảo luận nhóm, thuyết trình nhóm, giải bài tập nhóm, thực hành nhóm.
  • Theo quy mô số lượng: Nhóm ghép đôi (2 học sinh), nhóm nhỏ (3–7 học sinh), nhóm lớn (>7 học sinh).
  • Theo thời gian hoạt động: Nhóm tức thời (2–3 phút), nhóm thời gian ngắn (10–20 phút), nhóm trọn tiết học hoặc buổi học.
  • Theo cách thức chia nhóm: Chia theo vị trí ngồi có sẵn, theo danh sách lớp, theo sở thích, theo địa bàn cư trú, theo năng lực (xen kẽ học sinh khá - giỏi với trung bình - yếu), chia ngẫu nhiên (đếm số vòng tròn 1 đến $n$).

Đồng thời, chương này xác định tiến trình dạy học theo nhóm gồm 3 bước cơ bản:

  1. Bước 1 - Nhập đề và giao nhiệm vụ: Giới thiệu chủ đề, phân công nhiệm vụ cụ thể, hướng dẫn quy tắc làm việc và phân chia nhóm.
  2. Bước 2 - Làm việc nhóm: Chuẩn bị vị trí ngồi, lập kế hoạch, trao đổi thảo luận giải quyết vấn đề và chuẩn bị báo cáo kết quả.
  3. Bước 3 - Trình bày và đánh giá: Đại diện nhóm báo cáo sản phẩm, các nhóm thảo luận chéo, giáo viên nhận xét, sửa sai và tổng kết đánh giá thông qua phiếu tiêu chí.

Chương 2: Tìm hiểu thực trạng dạy học theo nhóm ở một số trường trung học phổ thông

Tác giả tiến hành điều tra thực trạng bằng phiếu hỏi tại 10 trường THPT thuộc TP. Hồ Chí Minh, phát ra 500 phiếu và thu về 474 phiếu hợp lệ. Kết quả định lượng từ cuộc khảo sát phản ánh thực trạng dạy học nhóm tại thời điểm năm 2010:

Tiêu chí khảo sát Lựa chọn phản hồi của học sinh Tỷ lệ (%)
Mức độ mới lạ của phương pháp nhóm Không mới lạ (đã biết đến hình thức này) 99,37% (471 HS)
Thái độ đối với học nhóm Thích học theo hình thức thảo luận nhóm 99,79% (473 HS)
Mức độ thường xuyên trong giờ Hóa Thỉnh thoảng được học theo nhóm 70,38% (335 HS)
Thường xuyên được học theo nhóm 10,34% (49 HS)
Rất ít hoặc không bao giờ 19,28% (90 HS)
Dạng bài học thường áp dụng Bài thực hành thí nghiệm 83,76%
Bài luyện tập, bài mới, ngoại khóa Chiếm tỷ lệ thấp hơn
Hình thức chia nhóm ưa chuộng Chia theo vị trí chỗ ngồi có sẵn trên lớp Chiếm đa số tuyệt đối
Quy mô nhóm mong muốn Nhóm 3 đến 6 học sinh 46,62%
Nhóm đôi (2 học sinh) 44,94%
Đánh giá mức độ khả thi Rất khả thi 24,26%
Khả thi / Bình thường 75,74%

Phân tích nguyên nhân thực trạng cho thấy: mặc dù học sinh rất hào hứng nhưng việc áp dụng chưa thường xuyên (chỉ 10,34% thường xuyên, chủ yếu tập trung tại THPT Nguyễn Công Trứ do giáo viên đã phân công nhóm đôi cố định từ đầu năm). Trở ngại lớn nhất được chỉ ra là: thời lượng tiết học 45 phút quá ngắn; giáo viên mất nhiều thời gian chuẩn bị phiếu học tập và giáo án; tâm lý học sinh còn thụ động, e dè khi làm việc tập thể; tình trạng một số học sinh lo ra, làm việc riêng; cơ sở vật chất phòng học truyền thống gây khó khăn cho việc kê lại bàn ghế.

Chương 3: Thiết kế một số giáo án sử dụng hoạt động nhóm trong dạy học môn Hóa ở trường THPT

Tác giả đề xuất quy trình chuẩn 5 bước để thiết kế một bài lên lớp theo hoạt động nhóm:

  • Bước 1: Xác định mục tiêu bài học (lượng hóa theo 3 thành tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ; phân hóa 3 mức độ: biết, hiểu, vận dụng).
  • Bước 2: Chuẩn bị thiết bị, đồ dùng dạy học, tranh ảnh, hóa chất và hệ thống phiếu học tập.
  • Bước 3: Xác định phương pháp dạy học chủ yếu cho từng nội dung trọng tâm.
  • Bước 4: Thiết kế chuỗi hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh (hoạt động khởi động, chiếm lĩnh kiến thức, củng cố, rèn luyện kỹ năng).
  • Bước 5: Hoạt động kết thúc tiết học (khái quát hóa kiến thức, đánh giá mức độ đạt được, ra bài tập về nhà và hướng dẫn chuẩn bị bài mới).

Dựa trên quy trình này, tác giả thiết kế chi tiết 7 giáo án thực nghiệm cho chương trình Hóa học ban cơ bản:

  • Lớp 10: Bài 29 "Oxi - Ozon" (tiến trình 10 hoạt động dạy học, tích hợp 5 phiếu học tập); Bài 30 "Lưu huỳnh"; Bài 32 "Hidro sunfua - Lưu huỳnh đioxit - Lưu huỳnh trioxit".
  • Lớp 11: Bài 29 "Anken" (tiết 1 và tiết 2).
  • Lớp 12: Bài 34 "Crom và hợp chất của Crom"; Bài "Ôn thi học kỳ II" (tiết 69 và tiết 69*).

Trong mỗi giáo án, tác giả thể hiện rõ kịch bản hoạt động của giáo viên và học sinh, các câu hỏi phân hóa, các thí nghiệm trực quan (như đốt Mg, C, cồn $C_2H_5OH$ trong oxi; điều chế oxi từ $KMnO_4$, $KClO_3$, $H_2O_2$; phản ứng chứng minh tính oxi hóa của ozon mạnh hơn oxi với dung dịch KI và kim loại Ag) cùng hệ thống phiếu học tập làm công cụ dẫn dắt thảo luận nhóm.

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Nội dung thực nghiệm được triển khai trong năm học 2009–2010 nhằm kiểm chứng tính hiệu quả của các giáo án đã thiết kế.

  • Địa bàn thực nghiệm: 4 trường THPT tại TP. Hồ Chí Minh gồm THPT Nguyễn Công Trứ, THPT Nguyễn Chí Thanh, THPT Vĩnh Lộc và THPT Hoàng Hoa Thám.
  • Cơ cấu mẫu thực nghiệm: Chọn các cặp lớp có trình độ tương đương, cùng một giáo viên giảng dạy, trong đó lớp thực nghiệm (TN) dạy theo phương pháp hoạt động nhóm và lớp đối chứng (ĐC) dạy theo phương pháp truyền thống:
    • Khối 10: Cặp lớp 10A1 (TN) và 10A10 (ĐC) tại THPT Nguyễn Công Trứ; cặp lớp 10A10 (TN) và 10A14 (ĐC) tại THPT Nguyễn Chí Thanh.
    • Khối 11: Cặp lớp 11A7 (TN) và 11A8 (ĐC) tại THPT Vĩnh Lộc.
    • Khối 12: Ba cặp lớp tại THPT Hoàng Hoa Thám gồm 12A14 (TN) - 12A15 (ĐC), 12A1 (TN) - 12A2 (ĐC), và 12A7 (TN) - 12A8 (ĐC).
  • Đánh giá định tính: Học sinh ở các lớp thực nghiệm thể hiện thái độ học tập tích cực, không khí lớp học sôi nổi, tinh thần hợp tác và sự tự tin trong giao tiếp tăng lên rõ rệt so với lớp đối chứng.
  • Đánh giá định lượng: Kết quả các bài kiểm tra đánh giá (10 phút, 15 phút, 20 phút) được xử lý bằng toán học thống kê. Tại tất cả các cặp lớp thử nghiệm ở cả 3 khối 10, 11 và 12, đường lũy tích điểm số của lớp thực nghiệm luôn nằm lệch về bên phải và phía dưới so với lớp đối chứng, chứng minh tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi ở lớp thực nghiệm cao hơn rõ rệt và tỷ lệ điểm yếu, kém giảm mạnh. Điểm trung bình cộng ($\bar{X}$) của các lớp thực nghiệm đều cao hơn lớp đối chứng có ý nghĩa thống kê.

Từ thực tiễn giảng dạy, tác giả đúc kết 4 nhóm kinh nghiệm sư phạm quan trọng:

  1. Kinh nghiệm chia nhóm: Với lớp học đông (>45 học sinh), phương án chia nhóm đôi hoặc nhóm 4 học sinh theo bàn ngồi có sẵn là tối ưu nhất để tránh lãng phí thời gian di chuyển.
  2. Kinh nghiệm bố trí chỗ ngồi: Sắp xếp sao cho các thành viên có thể giao tiếp trực diện mà không làm cản trở tầm nhìn lên bảng và màn chiếu của giáo viên.
  3. Kinh nghiệm lựa chọn nội dung thảo luận: Chỉ đưa vào hoạt động nhóm những vấn đề phức hợp, có tính khái quát, yêu cầu so sánh, giải thích hiện tượng hoặc bài tập phân hóa; không tổ chức nhóm cho các câu hỏi tái hiện đơn thuần.
  4. Kinh nghiệm tổ chức, điều khiển: Giáo viên phải giữ vai trò trọng tài, cố vấn; cần luân chuyển vai trò nhóm trưởng, thiết kế thang điểm đánh giá chéo rõ ràng để kiểm soát tình trạng ỷ lại.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Khảo sát thực trạng quy mô 10 trường THPT: Cung cấp bức tranh dữ liệu cụ thể về nhận thức, nhu cầu và rào cản khi triển khai dạy học nhóm môn Hóa học tại TP. Hồ Chí Minh năm 2010 (99,79% học sinh thích học nhóm nhưng 70,38% chỉ được học thỉnh thoảng; 83,76% mới chỉ dừng lại ở các tiết thực hành).
  • Quy trình thiết kế bài học 5 bước: Định hình khung phương pháp logic, khả thi giúp giáo viên hóa học THPT chủ động xây dựng giáo án dạy học tích cực.
  • Bộ tư liệu giáo án và phiếu học tập thực nghiệm: Hoàn thành 7 giáo án chi tiết trải đều ở cả 3 khối lớp 10, 11, 12 ban cơ bản, tích hợp hệ thống phiếu học tập tường minh, câu hỏi phân hóa gắn liền với bản chất hóa học và đời sống thực tiễn.
  • Minh chứng định lượng qua thực nghiệm: Kiểm chứng thực tế tại 4 trường THPT (Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Chí Thanh, Vĩnh Lộc, Hoàng Hoa Thám) với 6 cặp lớp đối chứng. Các tham số thống kê và đồ thị đường lũy tích điểm số khẳng định lớp áp dụng phương pháp nhóm đạt điểm trung bình cao hơn và phân bố phổ điểm chuyển dịch tích cực hơn so với lớp dạy theo lối truyền thống.

Đóng góp mới so với các nghiên cứu trước

Dựa trên việc kế thừa chọn lọc các khóa luận giai đoạn 2003–2009 tại Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh (vốn chỉ giới hạn ở một chương riêng lẻ của lớp 10 nâng cao hoặc ghép nối với phương pháp đóng vai), tác giả đã mở rộng phạm vi áp dụng xuyên suốt chương trình Hóa học ban cơ bản ở cả ba khối lớp 10, 11 và 12. Nghiên cứu giải quyết bài toán thực tế bằng cách thiết lập giải pháp chia nhóm linh hoạt theo vị trí ngồi và xây dựng hệ thống phiếu học tập định hướng, giúp khắc phục triệt để rào cản hạn hẹp về thời lượng 45 phút của một tiết học phổ thông.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Thời gian nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm chỉ kéo dài trong 8 tháng theo khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp đại học, dẫn đến số lượng tiết thực nghiệm trên từng khối lớp chưa phủ kín toàn bộ chương trình môn học.
  • Đề tài chỉ tập trung khảo sát và thực nghiệm trên đối tượng học sinh học chương trình ban cơ bản, chưa mở rộng đối sánh trên học sinh ban nâng cao hoặc các lớp chuyên Hóa.
  • Cơ sở vật chất phòng học tại các trường thực nghiệm thời điểm năm 2010 (bàn ghế cố định, sĩ số lớp đông) tạo ra lực cản nhất định đối với việc di chuyển và tương tác nhóm lớn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng quy trình thiết kế hoạt động nhóm sang toàn bộ các bài học lý thuyết, bài tập và ôn tập trong chương trình Hóa học THPT nâng cao.
  • Nghiên cứu kết hợp sâu hơn giữa phương pháp dạy học nhóm với các phần mềm dạy học hóa học, mô phỏng thí nghiệm ảo và ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá trực tuyến.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên sư phạm ngành Hóa học: Khóa luận là tài liệu tham khảo trực tiếp về kỹ năng biên soạn giáo án tích cực, kỹ thuật xây dựng phiếu học tập và phương pháp xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm bằng công cụ thống kê toán học.
  • Đối với giáo viên bộ môn Hóa học tại các trường THPT: Cung cấp 7 bài giáo án mẫu đã qua kiểm chứng thực tế cùng 4 nhóm bài học kinh nghiệm xử lý các tình huống sư phạm phát sinh trong giờ học nhóm (cách chia nhóm nhanh, quản lý trật tự lớp học, phương pháp đánh giá chéo giữa các nhóm).
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Cấu trúc 5 bước thiết kế bài lên lớp (Chương 3), hệ thống 5 phiếu học tập chi tiết của bài "Oxi - Ozon" và bảng phân tích số liệu thực trạng cùng bài học kinh nghiệm tổ chức lớp học (Chương 2 và Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Dữ liệu khảo sát thực trạng trong khóa luận được thu thập từ quy mô mẫu như thế nào?

Khảo sát được thực hiện thông qua phiếu hỏi gồm 13 câu hỏi, phát ra cho học sinh tại 10 trường THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh với tổng số 500 phiếu phát ra, thu về 474 phiếu hợp lệ để xử lý số liệu thống kê.

2. Theo kết quả điều tra, rào cản lớn nhất khiến giáo viên và học sinh gặp khó khăn khi học nhóm là gì?

Khó khăn lớn nhất được học sinh chỉ ra là vấn đề thời gian (tiết học 45 phút không đủ để vừa thảo luận vừa hoàn thành bài giảng), kế đến là tình trạng học sinh còn thụ động, thiếu tự tin, một số học sinh lợi dụng lúc thảo luận để làm việc riêng và thói quen thụ động kéo dài từ trước của cả giáo viên lẫn học sinh.

3. Tác giả đã thiết kế giáo án thực nghiệm cho những bài học cụ thể nào?

Tác giả thiết kế 7 giáo án thuộc chương trình Hóa học ban cơ bản:

  • Lớp 10: Bài 29 "Oxi - Ozon", Bài 30 "Lưu huỳnh", Bài 32 "Hidro sunfua - Lưu huỳnh đioxit - Lưu huỳnh trioxit".
  • Lớp 11: Bài 29 "Anken" (tiết 1 và tiết 2).
  • Lớp 12: Bài 34 "Crom và hợp chất của Crom", Bài "Ôn thi học kỳ II" (tiết 69 và tiết 69*).

4. Thực nghiệm sư phạm được triển khai tại những trường THPT nào và kết quả định lượng phản ánh điều gì?

Thực nghiệm được tiến hành tại 4 trường THPT: Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Chí Thanh, Vĩnh Lộc và Hoàng Hoa Thám. Kết quả thống kê qua các bài kiểm tra 10, 15, 20 phút cho thấy đường lũy tích điểm số của tất cả các lớp thực nghiệm đều lệch phải so với lớp đối chứng, điểm trung bình cao hơn và tỷ lệ điểm khá - giỏi tăng lên rõ rệt.

5. Khóa luận khuyến nghị giải pháp chia nhóm nào là phù hợp nhất với điều kiện lớp học phổ thông hiện nay?

Khóa luận đúc kết kinh nghiệm rằng giải pháp chia nhóm theo vị trí chỗ ngồi có sẵn (nhóm đôi 2 học sinh hoặc nhóm 4 học sinh bằng cách hai bàn trên dưới quay mặt vào nhau) là tiện lợi nhất, giúp tiết kiệm thời gian kê xếp bàn ghế và giúp giáo viên dễ dàng bao quát, quản lý lớp học.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Tuyết đã giải quyết một cách có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học Hóa học ban cơ bản tại trường THPT. Thông qua khảo sát 474 học sinh tại 10 trường THPT và tiến hành thực nghiệm sư phạm trên 6 cặp lớp tại TP. Hồ Chí Minh, công trình chứng minh phương pháp dạy học theo nhóm nâng cao rõ rệt sự hứng thú và kết quả học tập của học sinh. Hệ thống quy trình 5 bước, 7 giáo án thực nghiệm cùng các bài học kinh nghiệm tổ chức lớp học là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thực tế cho giáo viên và sinh viên ngành Sư phạm Hóa học.