BỘ GIÁO DỤC VÀ BẢO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM THANH PHO HO CHÍ MINH TỬ —— TC TA. — KHÓA LUẬN MON HỌC : PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CUU KHOA HỌC THẦY HƯỚNG DAN — :PTS BÙI NGỌC OANH SINH VIÊN : NGUYÊN DIEU HÙNG THANG 6/1996 NGHIÊN Cứu KHOA HỌC Là VAN ĐỀ của PHƯƠNG PHáP LUẬN Nghiên cứu khoa học một cách có nhương pháp là diéu cần cho bất cứ khoa học nào. Đây là vấn để của phương pháp luận. Nhưng phương pháp luận là một hộ phận của lôgích học, Vì vậy, nghiên cứu khoa học cũng là một vấn dé của lôgích hoc.
Vậy, lôgích học là gì?. Nếu nhìn từ góc độ “vật chất và vận động”, ta có lôgích học hình thác và légich học biện chứng. Mọi người đều biết, bất cứ dang vật chất nào cũng đều d trong quá trình phát triển không ngừng. Nhưng diéu đồ không loại trừ hiện tượng đứng im tương đối của vật chất.
Nếu không có sự đứng im tương đổi, tạm thời, thì sẽ không có sự vật cụ thể nào cả, Vi vậy, nếu vật chất có hai dang: ổn định và phát triển (đứng im tương đối và vận động tuyệt đổi), thì lôgích cũng có hai loại : Légich học hình thức (logique formelle) phản ảnh sự vật trong tĩnh trạng tương đối ổn định và xác định vào trong dc người, Và lũgích biện chứng (logique dialectique) phan ảnh sự vật trong tình trạng phát triển, biến đổi của nó. Mỗi loại lôgích học đều phát hiện được những qui luật và hình thức của tư duy phù hợp với hai dang của vật chất vừa được nói đến ở trên. Nếu nhìn từ góc độ “ứng dung” hay không ứng dung vào khoa học cụ thể, ta có légich hình thức và légich ứng dụng. Légich hình thức (logique fotmelle) chỉ nghiên cứu những hình thức (khái niệm, phán đoán, suy luận) và quy luật của tư duy mà không ban tam đến nội dung của tư duy.
Nói cách khác, lôgích học nhằm đạt đến hình thức và qui luật tư duy đúng, đổi với bất cứ nội dung nào (sinh, hóa, lý, địa chất An Tu duy con người luôn luôn hướng về một đổi tượng ở bên ngoài. Ví dụ: đối tướng của todn học là hình và số, đổi tượng của vát lý học là các hiện tượng tự nhiên, đổi tượng của sử học là những sư kiện đã qua. Muốn đạt được những đổi tượng đó, tư duy của ta nói chung phải tuân theo những nguyen tắc nào, qui ludt nao, nhướng pháp naa. Hỏ là đổi tướng nghiên cứu của lñg‡ch ng dung Chinh ldgich ứng dung sé chỉ cho ta biết, với đổi tưng nào thì phải dùng phương pháp nào, để có thể dat được chan lý, Mỗi loại đổi tượng có mội phuttng phán nghiên cứu thích hợp đổi với nó.
Toán học, sinh val học, hóa hee. đếu có phường phap nghiên cứu néng mà vác nhà ứng dung phải xác đình rả. Ufng dung gdm có hai phần: nhương pháp luận và khoa hoe, Khow hoc luận (¢pistémologic): Theo từ nguyên Hy Lap (épistémeé: khoa húc; logos: thdo luận), khoa học luận có nghĩa là nghiên cứu khoa hoe. Do là sự nghiên sưu, phe hình về nhưng nguyễn tắc dure dp dụng, những giả thuyết dite nêu ra và những ket quả dat được của cúc hho học.
Nội cách khác, khoa hoc luận đại và giải quyết những van để về nguồn gốc, giá trị của khoa hoe và mỗi tương quan giữa khoa học và thực tại. Đứng trước những nguyén lý. những giả thuyết, những kết quả đả huàn thành của khoa hoc, khoa học luận dat van dé: giá trị của chúng ra sao” Phường pháp luận (méthodologic): Là sự nghiền cứu hậu nghiệm về các | x ‘ phương nháp khoa hoe No giúp cho những người không chuyên môn, những người tập sự muốn di vao con đường nghiên cứu khoa học cú thể nhanh chóng nhận biết duce phuting phán nàu là nhưưng pháp cần thiết cho sư nghiên cứu của ho. PHƯƠNG PHÁP LUẬN, SỰ NGHIÊN CUU HẬU: NGHIỆ M VỀ CÁC PHƯƠNG: PHAP Phuving pháp (méthode), theo nghĩa thông thường, là hệ thông những cách thức, nguyên tắc được đúc kết lại, nhằm chỉ dẫn chủ ta đạt được mục dich một cách tôi nhất với sự tốn kém (sức lực, thời gian, tién bac.) ít nhất Vi du: phương pháp trắng năm.
Con theo nghĩa triểt học, phương pháp là một hé thông những quy tắc mà chủ thể phải wan thee để điều chỉnh hoại dong nhận thức và hoạt đông cải tạo thực tiến, xuất phát từ sự vin động khách quan và có quy luật của khách thể. Ví dụ phương pháp quy nạp, phương pháp diện dich, phướng phap hệ thống - edu trúc,. Phương pháp luận (méthodologic) là một bộ phận của lôgích học, nhằm nghiên cứu môi cách hậu nghiệm (a posieriori) về các phương pháp nghiên cứu khoa học. Như vậy các nhà phương pháp luận không để xuất trước phương pháp cho các nhà nghiên cứu noi theo.
Họ không sắng tạo ra phương pháp. Trái lại họ chỉ quan sát cách thức mà các nhà khoa học đã làm, rỗi xác định “con đường ” (tức phương pháp mà đa sốcác nhà khoa học đã ứng dụng một cách có hiệu quả, khi nghiên cứu). Nói cách khác, họ làm công việc chọn lọc hoặc “tổng hợp” những phương pháp mà các nhà khoa học đã tim tòi, khám phá được trong một ngành khoa học nào đó (đổi với phương pháp riêng của các khoa học cu thể) hay trong nhiều ngành khoa hoc (đối với phương pháp chung, phổ biến). Đứng trước những con đường khác nhau dẫn đến cùng mội mục tiêu, phương pháp luận sẽ chỉ cho ta con đường nào là con đường ngắn nhất, tốt nhất.
Xét về nguẫn gốc thì khoa học có trước phương pháp. Thật vậy, mãi tới thời cận đại, người ta mới nói đến phương pháp toán học, mặc dù toán học đã có từ thời cổ đại. Còn phương pháp thực nghiệm, phải chờ đến thé kỷ XVII, FRANCIS BACON mới để cận đến trong cuốn “Công cụ mới” (Novum Organum) và đến thế kỷ XIX, CLAUDE BERNARD mới hoàn chỉnh phương pháp này. Nhưng khi phương pháp đã xuất hiện thì lại sẽ thúc đẩy cho khoa học tiến nhanh hơn.
Đó là mối quan hệ biện chứng giữa khoa hoc và nhương pháp nhận thức khoa học. HEGEL là một trong những người đầu tiên đã có công đối với ngành phương pháp luận. Ông chủ trương rằng có sự khác biết giữa phương pháp triết học với những phương pháp của các khoa học cụ thể, rằng không thể nhập chung phương pháp triết học và các phương pháp của khoa học lại làm một được. Ông nhấn mạnh rằng phương pháp là sự vận động của bản thân nội dung nên không thể nghiên cứu phương pháp ma lại tách rời khỏi nội dung.
Tuy nhiên, vì là một nhà triết học duy tâm nên HEGEL đã quan niệm một cách sai lam rằng khoa học là sản phẩm của Tinh Than Tuyệt Đối nên phương pháp khoa học cũng chỉ là sản phẩm của Tinh Thần Tuyệt Đối ma thôi. Phương pháp luận Mac-sxit ngưtực lại coi cdc nhưng pháp khea học là phan nh một cách khách quan “con đường” mà các nhà khoa hoc phải tuần theo khi fim hiểu thể giới hiện thực ở ben ngoài con người, Công việc của các nhà phương pháp luận vừa có tính khóa Aer lại vừa có tính nghệ thuật. Họ phải hiết tập trung tất cả những kinh nghiệm nghiên cứu rỗi phan tích, lựa chon, xây dung thành một hệ thống các nguyên tắc để tan thành phương pháp, Họ phải biết timecho mỗi đối tượng cin được nghiễn cứu, một phương pháp thích hợp nhất để có thể dat được kết quả tốt nhất. Thé nhưng thể giổi quan của các nhà phương pháp luận cũng giữ mội vai trò quan trong trong việc xảy dựng phương pháp.
nỗ hướng dẫn họ lựa chọn mi cách nhìn naa dd (duy im hay duy vat, hiện chứng hay siéu hình} khi xem xét các phương pháp đã được áp dung để nghiên cứu mội sư kiện khoa học. Mai đến thé kỷ thứ XVIH, thé giới quan của phan lớn loài người vẫn con là thé gidi quan “siêu hình” (do trình 46 hiểu biết về thé giđi con nông cạn, sai lệch, thiếu khoa học) nên phương nhấp luãn siêu hình vẫn chiém địa vị thống trị Tới thé kỹ XIX nhờ winh độ khoa học được nẵng cao hơn, nhiều người mới khám phá ra rằng, trong cái thể giới tự nhiên không có gì là bat hiển, Mọi cái déu có tiên hệ uới nhau và luôn luỗn ở trong trạng thái phát triển, hiển đổi. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, DIEU KIỆN CAN CỦA MỌI KHOA HỌC Mỗi khoa hoc déu có nhương pháp nghiên cứu riêng biệt, tùy theo đổi tượng của nó, Nha toán học, vat lý học. cá những phương nhấp nghiên cứu khác nhau, nhờ đó khám pha được chan lý trong lĩnh vực chuyên hiệt của minh, Phương, pháp nghiễn cứu khoa hoc nói chung hay khoa học về nghiên cứu {science de recherche} không phải là phương pháp của các khoa hoe vừa nói (phương pháp toán hec, phương pháp khua học thực nghiệm, phương phán sử học.) vì nó không bận tâm đến việc khám phá ra những quy luật của vật lý hoc, luần hoc, hay sử học.
Trái lai nó chỉ muốn tim hiểu xem nhà vật lý học, nhà toán học, nhà sử học nói chung đã tién hành việc nghiên cứu theo lớn lang nào, đã làm tiệc theo cách thức nào mà dut được kết quả. Phương pháp luận nói chung, căn cứ vào phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học mà rúi ra những quy tắc, những điểu kiện chung cho việc khám phá chân lý khoa học. Chẳng han các nhà triết học như FRANCIS BACON, JONH STUART MILL, CLAUDE BERNARD đã xác định được những quy tắc-của phương pháp thực nghiệm Với công việc này, họ đã trở thành những nhà phương pháp luãn. Bối với khoa học về nghiên cứu cũng vậy.
Trong lĩnh vực này những người như EDWARD FREEMAN, JOSE A. ADEVA, TYRUS, HILLWAY, CARTER V. là những nhà “phương pháp luận”. Họ không chi “con đường” (tức phương pháp) riêng cho các nhà sinh vật học, kinh tế học, văn học, sử học.
hoặc sinh viên của các khoa sinh, khoa kinh tế, khoa văn, khoa sử khám phá được chan lý trong khoa học chuyên biệt của minh, nhưng họ chỉ cho tất cả những người ấy “đường đi nước bước” để đạt được mục đích mà họ muốn. Vi thé để gat hái được kết quả với những bước đi hợp lý nhất, hiệu quả nhất, bat cứ ai muốn tiến hành việc nghiên cứu khoa học cũng cần phải biết phương pháp nghiên cứu, nếu không muốn tự mình may mò mất thì giờ. PHAN LOẠI NGHIÊN Cứu KHOA HỌC CÁC LOẠI NGHIÊN CUU KHOA HỌC TÓM TẮT KHOA HỌC Đây là loại nghiên cứu khoa học đơn giản nhất. Tác giả tóm tất lại nội dung một bai báo, một cuốn sách hay một buổi báo cáo khoa học.