ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin và về tác động của insulin [6]. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế, năm 2019 toàn thế giới có 463 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), trong đó Việt Nam chiếm đến 6% tỷ lệ người trưởng thành mắc ĐTĐ, ước tính hơn 4 triệu người trong độ tuổi từ 20-79 đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến ĐTĐ. Cùng tốc độ phát triển nhanh chóng, với tính chất của một bệnh mạn tính kéo dài gây nhiều biến chứng (bệnh tim mạch, mù hòa, suy thận,.), ĐTĐ đã và đang gây ra gánh nặng về sức khỏe và kinh tế cho cá nhân người bệnh cũng như cho toàn xã hội [3]. Hiện nay, đái tháo đường được kiểm soát bằng nhiều hướng như sử dụng thuốc duy trì lượng glucose trong máu, thuốc hoạt hóa sự tiết insulin… với công dụng chính là hạ đường huyết hoặc cung cấp insulin thay thế tạm thời cho người bị ĐTĐ, tuy vậy, phần lớn thường có thêm tác dụng phụ không mong muốn.
Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển các thuốc hạ đường huyết có nguồn gốc thực vật, đặc biệt là những cây thuốc đã được sử dụng phổ biến trong dân gian, nhằm tìm những thuốc mới hiệu quả và không gây tác dụng phụ là cần thiết. Ổi từ lâu đã được sử dụng trong y học cổ truyền phương Đông để giúp đẩy lùi bệnh đái tháo đường một cách tự nhiên ở các nước châu Á như Việt Nam, Trung Quốc. Triterpenoid là thành phần chính trong lá ổi, đã có khoảng hơn 20 triterpenoid được phân lập, trong đó acid corosolic chiếm hàm lượng lớn nhất, là triterpenoid chính trong lá. Acid corosolic có khả năng ức chế α-glucosidase rất mạnh [25], sự ức chế α-glucosidase làm chậm quá trình phân hủy carbohydrate và làm giảm lượng đường huyết sau bữa ăn, điều này có lợi cho việc điều trị bệnh tiểu đường [45].
Dược điển Việt Nam V có chuyên luận về lá ổi [5], nhưng chỉ mới có chỉ tiêu định tính mà chưa xây dựng phương pháp định lượng các thành phần cụ thể, tại Việt Nam, lá ổi là dược liệu rất rẻ tiền và thu hái dễ dàng, tuy nhiên nghiên cứu về lá ổi mới chỉ dừng lại ở mức độ sơ cấp mà chưa được nghiên cứu sâu, vì vậy nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng phương pháp định lượng acid corosolic trong lá ổi bằng kỹ thuật HPLC” với hai mục tiêu sau: 1. Xây dựng và thẩm định phương pháp định lượng acid corosolic trong lá ổi 2. Ứng dụng phương pháp mới xây dựng, định lượng acid corosolic trong một số mẫu lá ổi. TỔNG QUAN VỀ CÂY ỔI (Psidium guajava L.
Đặc điểm thực vật Ổi có tên khoa học là Psidium guajava L., họ Sim - Myrtaceae. Ổi còn có tên khác là Psidium guajava L. var pyryferum hoặc Psidium guajava L. Cây nhỡ cao 3-6m.
Thân có vỏ mỏng, trơn nhẵn, khi già bong ra từng mảng. Cành non vuông có lông mềm, cành già hình trụ nhẵn. Lá mọc đối, hình trái xoan hoặc hình trứng, gốc tròn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới nhạt có gân nổi rõ [17]. Hoa màu trắng, mọc đơn độc hoặc tập trung 2-3 cái ở kẽ lá, cuống có lông mịn, đài nhỏ có ống, 4-5 răng không đều, tràng 5 cánh dày, có lông mịn, nhị rất nhiều xếp thành nhiều dãy, chỉ nhị rời, bao phấn có trung đới rộng: bầu hạ, 5 ô dính vào ống đài [17], [5].
Quả mọng, hình cầu hoặc hình trứng, khi xanh có vị chua chát, khi chín màu vàng, ruột màu đỏ, trắng hoặc vàng, vỏ quả giữa dày, có rất nhiều hạt hình thận [13]. Ảnh cây ổi và hoa ổi (Psidium guajava L. Phân bố Ổi có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ. Các nước trồng nhiều ổi nhất thế giới là Brazin, Mexico, Thái Lan, Indonesia và một số nước khác ở Châu Á.
Ước tính mỗi năm có khoảng vài trăm ngàn tấn quả được đưa ra thị trường thế giới [17]. Ở nước ta, ổi là cây ăn quả quan trọng, được trồng hầu như khắp các địa phương, cả vùng đồng bằng lẫn miền núi, trừ vùng cao trên 1500m [17]. Bộ phân dùng Lá, quả, búp non, vỏ rộp và đôi khi cả vỏ rễ [17]. Thành phần hóa học 1.
Triterpenoid Triterpenoid là nhóm hoạt chất chính trong lá ổi và được công bố trong nhiều nghiên cứu trước đó. Tính đến nay, hàng chục terpenoid đã được phân lập từ P. guajava, trong số đó, acid corosolic, acid asiatic [21], acid maslinic, acid ursolic [43] và acid oleanolic [22] đã được nghiên cứu và chứng minh là góp phần vào các hoạt động dược lý của P. Đã có khoảng hơn 20 triterpenoid đã được công bố phân lập từ lá ổi với cấu trúc đa dạng thuộc nhiều nhóm khung cấu trúc từ pentacyclic như olean, ursan, lupan… đến khung tetracyclic như nhóm lanostan [16].
Điển hình là các triterpenoid pentacyclic có khung cấu trúc olean, ursan. Triterpenoid có khung cấu trúc ursan: acid corosolic, acid ursolic, acid 2α- hydroxyursolic, acid guavanoid, acid guavacoumaric, acid guajanoic, acid asiatic, acid jacoumaric, acid isoneriucoumaric [21], [22]. Triterpenoid có khung cấu trúc olean: acid oleanolic, acid maslinic, acid arijunolic [21]. Cấu trúc hóa học nhóm acid triterpenic phân lập từ lá ổi 3 Bảng 1.
Công thức hóa học nhóm acid triterpenic phân lập từ lá ổi Chemical Name R1 R2 R3 R4 R5 R6 Acid guavaoic OH OH CH3 CH3 -OAc CH3 Acid guavacoumaric OH OH R CH3 H CH3 Acid guajanoic OMe R CH3 CH3 H CH3 Acid ursolic H OH CH3 CH3 H CH3 Acid 2α-hydroxyursolic OH OH CH3 CH3 H CH3 Acid corosolic OH OH CH3 CH3 H CH3 Acid asiatic OH OH CH3 CH2OH H CH3 Acid jacoumaric OH R CH3 CH3 H CH3 Acid isoneriucoumaric R OH CH3 CH3 H CH3 Acid maslinic OH OH CH3 CH3 CH3 H Acid oleanolic H H CH3 CH3 CH3 H Acid arjunolic OH OH CH3 CH2OH CH3 H Ngoài ra, còn có 4 triterpenoid cũng được phân lập P. guajava, chúng là este của acid corosolic hoặc acid maslinic [44]. Công thức hóa học triterpenoid phân lập từ lá ổi 4 Bảng 1. Công thức hóa học một số triterpenoid phân lập từ lá ổi Chemical Name R1 R2 R3 R4 R5 Acid 3β- O-cis-p-coumaroyl-2α- OH cis-p-coumaroyl H CH3 H hydroxy-olean-12-en-28-oic Acid 3β- O-cis-p-coumaroyl-2α- OH cis-p-coumaroyl H H CH3 hydroxy-urs-12-en-28-oic Acid 3β- O-trans-p-coumaroyl- OH trans-p-coumaroyl H CH3 H 2α-hydroxy-olean-12-en-28-oic Acid 3β- O-trans-p-coumaroyl- OH trans-p-coumaroyl H H CH3 2α-hydroxy-urs-12-en-28-oic Nghiên cứu định lượng 9 triterpeniod gồm acid asiatic (1), acid maslinic (2), acid corosolic (3), acid 3β-O-cis-p-coumaroyl-2α-hydroxy-olean-12-en-28-oic (4), acid 3β- O-cis-p-coumaroyl-2α-hydroxy-urs-12-en-28-oic (5), acid 3β-O-trans-p-coumaroyl- 2α-hydroxy-olean-12-en-28-oic (6) và acid 3β-O-trans-p-coumaroyl-2α-hydroxy-urs- 12-en-28-oic (7), acid oleanolic (8), acid ursolic (9) trong lá và quả của P.
guajava được trồng ở một số vùng tại Trung Quốc. Kết quả cho thấy rằng các triterpenoid chủ yếu tập trung ở lá và có hàm lượng rất khác nhau, tính theo tổng số triterpenoid thì có hàm lượng vào khoảng 12-35 mg/g, trong đó hàm lượng acid corosolic thu được là lớn nhất, dao động từ 4,25-15,25 mg/g [25]. Triterpenoid có khung cấu trúc lupan: acid betulinic và lupeol [30]. Cấu trúc hóa học triterpenoid khung lupan trong lá ổi 1.
Nhóm phenolic và flavonoid Flavonoid trong loài Psidium guajava L. có thành phần chủ yếu là quercetin, với hàm lượng 0,181 – 0,393% [29]. Ngoài ra còn có các dẫn chất của quercetin như 5 isoquercetin, avicularin, guajaverin, morin, morin-3-O-lyxoside, morin-3-O- arabinoside, quercetin-3-O-arabinoside, quercetin-3-O-glucopyranoside, leucocyanidi… [36]. OH OH R = H: Quercetin HO O R = -L-arabinofuranose: Avicularin O R OH O R = -L-arabinopyranose: Guajaverin Hình 1.
Một số flavonoid của lá ổi 1. Tanin Lá ổi rất giàu tanin, búp và lá non chứa tới 8 – 15% tanin loại pyrrogalol (tanin thủy phân được) như acid gallic, acid ellagic [3], [17]. Bên cạnh đó lá còn chứa cả tanin catechol [17] và loại kết hợp giữa tanin thủy phân được và tanin ngưng tụ là guvacin A, guvacin B,. O OH O OH HO OH HO OH HO O C COOH O Acid gallic Acid ellagic Hình 1.
Tanin của lá ổi 1. Tinh dầu Tinh dầu lá ổi có màu xanh vàng hoặc vàng đỏ, có mùi dễ chịu. Tùy theo từng loại ổi, hàm lượng tinh dầu trong lá khoảng 0,2 – 0,4%. Thành phần chính của tinh dầu lá ổi gồm d và dl-limonen, β-carophyllen, sesquiterpen alcol bậc 4.
Ở Việt Nam đã có một số tài nghiên cứu khá kỹ về tinh dầu lá ổi Psidium guajava L. Bằng các phương pháp cất khác nhau, hàm lượng tinh dầu cũng khác nhau, các tác giả đã xác định được 42 hợp chất trong tinh dầu với thành phần chính là β-carophyllen (39 – 58%), α-carophyllen (8 – 12%), carophyllen oxyd (9%). Các thành phần khác Ngoài các thành phần chính đã trình bày ở trên, trong lá ổi còn chứa 1 số thành phần sau: nhựa, sáp, đường, caroten, các vitamin B1, B2, B6, và vitamin C. Tác dụng trên chuyển hóa • Tác dụng hạ đường huyết + Tiêm phúc mạc 1 g/kg dịch ép quả ổi gây hạ đường huyết rõ rệt ở chuột nhắt trắng bình thường và chuột gây đái tháo đường (ĐTĐ) bằng alloxan.
Thời gian kéo dài tác dụng ngắn và yếu hơn so với clopropamid và metformin. Khi cho người bệnh ĐTĐ không phụ thuộc insulin và người bình thường uống dịch ép quả ổi cũng thấy có tác dụng hạ đường huyết [17]. + Tác dụng chống ĐTĐ của dịch chiết lá ổi cũng đã được một số nhà khoa học nghiên cứu. Chuột 1 tháng tuổi và 3 tháng tuổi bị gây ĐTĐ được tiêm màng bụng phân đoạn butanol của lá ổi với liều 10 mg/kg/ngày trong 4 tuần.
Kết quả nồng độ glucose huyết sau 28 ngày của nhóm chuột 1 tháng tuổi là 127 ± 29 (mg/dl) so với lô chứng là 412 ± 45 (mg/dl) và của nhóm chuột 3 tháng tuổi là 246 ± 35 (mg/dl) so với lô chứng là 587 ± 39 (mg/dl). Như vậy sau 4 tuần dùng phân đoạn butanol từ dịch chiết lá ổi qua đường tiêm màng bụng nhận thấy rằng nồng độ glucose huyết ở chuột giảm có ý nghĩa. Người ta cho rằng tác dụng làm hạ đường huyết của dịch chiết lá ổi là do khả năng ức chế protein tyrosine phosphatase 1B (PTP 1B) [42]. + Cho chuột nhắt trắng chủng Swiss uống 0,6 g bột phân đoạn methanol hoặc 4,5g cao lỏng 2:1 chiết từ lá (thu hái ở Sơn Tây – Hà Nội) tương đương 9 g dược liệu/kg thể trọng chuột đều gây hạ đường huyết rõ rệt ở chuột gây ĐTĐ bằng alloxan [16].
Kết quả cho thấy độ giảm đường huyết của lô uống bột phân đoạn methanol và lô uống cao lỏng so với lô chứng lần lượt là 41,16% và 40,27% với p < 0,05. Như vậy có thể thấy tác dụng hạ đường huyết của bột phân đoạn methanol chiết từ phân đoạn methanol là tương đương với cao nước lá ổi. + Cao nước và cao ethanol lá ổi có tác dụng làm giảm đường huyết ở chuột bị đái tháo đường gây bởi STZ [44].