Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quan niệm về trí tuệ, cấu trúc của trí tuệ và phát triển trí tuệ 1. Một số quan niệm về trí tuệ Các nhà khoa học đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm trí tuệ, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến trình độ nhất định”.
Hoàng Xuân Việt cho rằng trí tuệ là trí năng để hiểu biết. Đức tính của trí tuệ là thông minh. Vì đó tùy sự hiểu biết nhiều hay ít của một người mà nói họ thông minh nhiều hay ít. Cũng có thể định nghĩa trí tuệ là khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới, điều kiện mới.
Trong trường hợp này trí tuệ là óc tháo vát linh động [104, tr. “Giống nhiều lĩnh vực khác trong tâm lý học, có bao nhiêu nhà nghiên cứu trí tuệ thì có bao nhiêu định nghĩa về nó. Vì vậy, khó có thể áp đặt một định nghĩa chung cho mọi người. Tuy nhiên có thể khái quát một cách tương đối các quan niệm đã có về trí tuệ thành 3 nhóm chính: a) coi trí tuệ là khả năng hoạt động lao động học tập của cá nhân; b) đồng nhất trí tuệ với năng lực tư duy trừu tượng của cá nhân; c) trí tuệ là năng lực thích ứng tích cực của cá nhân” (dẫn theo [51, tr.
Dưới đây là một số quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về trí tuệ. + Theo thuyết ba yếu tố về trí tuệ của Sternberg (dẫn theo [6, tr.204]), thuyết này định nghĩa trí tuệ trên ba mặt: 1) Thế giới nội tâm của mỗi con người (quá trình xử lý thông tin tạo nên hoạt động siêu nhận thức, năng lực và quá trình lĩnh hội tri thức); 2) Thế giới bên ngoài của mỗi con người (khả năng thích ứng với môi trường xung quanh, khả năng cải tạo chúng và chọn lọc những môi trường mới); 3) Kinh nghiệm của mỗi con người trong cuộc sống (làm thế nào để đương đầu được với những điều mới mẻ và tự động hóa việc xử lý thông tin). + Trong bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết: Trí tuệ thực sự không được định nghĩa rõ ràng, nó là sự tổng hợp của nhiều khái niệm khác nhau như trí thông minh, kiến thức, sự hiểu biết về con người, sự khiêm tốn, kinh nghiệm lý luận, văn hóa hòa nhập, sự cởi mở, kỹ năng giải quyết vấn đề và phán xét. + Người Do Thái nói trí tuệ là thành quả của một quá trình học tập tri thức.
10 + Các tác giả của Đại học bách khoa toàn thư Pháp định nghĩa: “Trí tuệ là năng khiếu hiểu biết mà công cụ là ngôn ngữ”. + Từ điển ngôn ngữ tiếng Nga cho rằng: “Trí tuệ là hoạt động nhận thức của con người, là khả năng tư duy một cách lôgic và sáng tạo”. Từ các cách định nghĩa khái niệm khác nhau về trí tuệ đã nêu ở trên, chúng tôi có thể hiểu trí tuệ là khả năng tiếp nhận, xử lý và lưu trữ thông tin thông qua hoạt động nhận thức của chủ thể, khả năng nắm bắt tri thức mới và năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân. Một số quan niệm về cấu trúc của trí tuệ Quan niệm truyền thống về trí tuệ cho rằng “Trí tuệ được nghiên cứu như là một khối chung và được hiểu là “phán đoán tốt, hiểu biết tốt, lập luận tốt” [51, tr.
“Trí tuệ là một khả năng chung nhất ít nhiều được phát triển trong từng cá nhân và đặc biệt cho sự thành công trong học tập. Từ thời Platon, cách nhìn nhận thống nhất đó về trí tuệ có ảnh hưởng chiếm ưu thế đối với tư duy phương Tây” [6, tr. Hiện nay có quá nhiều mô hình cấu trúc khác nhau về trí tuệ trong tâm lý học. Theo [51], “Nếu dựa vào phương pháp tiếp cận, có thể tách ra các mô hình cấu trúc theo phương pháp phân tích yếu tố và các mô hình phân tích đơn vị.
Nếu dựa theo các số lượng phần tử trong cấu trúc, thì ngay trong hướng tiếp cận phân tích các yếu tố cũng bao gồm hai nhóm: cấu trúc hai thành phần và cấu trúc đa nhân tố. Còn hướng tiếp cận phân tích đơn vị tạo ra mô hình cấu trúc trí tuệ theo thuyết hoạt động và lý thuyết nhiều dạng trí tuệ” [51, tr. Mô hình cấu trúc trí tuệ theo phương pháp phân tích các yếu tố Trí tuệ là một khối thống nhất hay bao gồm các yếu tố khác nhau? Đó là một câu hỏi đặt ra cho các nhà nghiên cứu về trí tuệ. Nhiều nhà tâm lý học đã tiếp cận phân tích các yếu tố và cho rằng trí tuệ không phải là khối thống nhất mà gồm nhiều thành phần, tiêu biểu theo hướng tiếp cận này có: C.
Trong đó, nhân tố G là yếu tố chung của cá nhân, như tính linh hoạt, sự mềm dẻo, thần kinh…, đó là khả năng trí tuệ tổng quát, định hướng chung cho mọi hoạt động, nhân tố S là các khả năng chuyên biệt đảm bảo cho sự hoàn thành các hoạt động riêng (Dẫn theo tài liệu [51]).Menchinxcaia cũng coi cấu trúc trí tuệ gồm hai thành phần đó là trí thức về đối tượng (cái được phản ánh) là nguyên liệu, phương tiện của hoạt 11 động trí tuệ và các thủ thuật trí tuệ (phương thức phản ánh) là hệ thống các thao tác, được hình thành một cách đặc biệt để giải quyết nhiệm vụ theo một cách nào đó.Cattell trí tuệ được cơ cấu hai thành phần là: trí lỏng có từ khi con người mới sinh ra, nó là cơ sở tiền đề cho tư duy, trí nhớ và khả năng lập luận; trí tinh luyện bao gồm các kiến thức thu nhận được qua học tập và rèn luyện trong cả cuộc đời của mỗi con người. Thurstone (1887-1955) cho rằng trí tuệ gồm có 7 yếu tố: Khả năng hiểu và vận dụng số; Hiểu được ngôn ngữ; Sử dụng hoạt bát ngôn ngữ, biểu hiện qua khả năng dùng từ ngữ chính xác và linh hoạt; Khả năng về không gian, bao gồm khả năng biểu tượng về vật thể trong không gian; Trí nhớ; Khả năng tri giác; Khả năng suy luận. Mô hình cấu trúc trí tuệ ba chiều của J.Guilford được đánh giá cao hơn tất cả nhà nghiên cứu theo hướng phân tích yếu tố. Ông cho rằng một hoạt động trí tuệ bao gồm ba mặt: - Mặt thao tác các yếu tố: khả năng nhận thức; nhận dạng các sự kiện; - Mặt nội dung phản ánh: hình ảnh; biểu tượng; khái niệm; hành vi; - Mặt sản phẩm: các yếu tố đơn vị; lớp; quan hệ; hệ thống; chuyển hóa; tổ hợp (dẫn theo [51, tr.Sternberg, cấu trúc trí tuệ gồm ba thành phần: - Thành phần siêu cấu trúc, lập kế hoạch, điều khiển, theo dõi, đánh giá các hoạt động của cá nhân; - Thành phần thực hiện, trợ giúp việc triển khai, hướng dẫn của thành phần siêu nhận thức; - Thành phần tiếp thu tri thức, là khả năng tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ, cho phép chúng ta nắm bắt được ngữ cảnh trong quá trình giải quyết vấn đề.
Mô hình cấu trúc trí tuệ theo phương pháp phân tích đơn vị Phương pháp phân tích theo đơn vị được hiểu là “Theo cách tiếp cận này, nhiệm vụ của nhà nghiên cứu phải chỉ ra được đơn vị tâm lý nhỏ nhất mà ở đó vẫn bảo toàn bản chất tâm lý của nó. Trong nghiên cứu trí tuệ, một mặt phải chỉ ra được cấu trúc của nó, mặt khác, chỉ ra một nội dung tâm lý - xã hội và các yếu tố chế ước nó” [51, tr. Hai nhà tâm lý học đi đầu trong phương pháp nghiên cứu này là L.Vư-gôt-xki và Howard Gardner.Vưgôtxki phân chia trí tuệ gồm trí tuệ cấp thấp và trí tuệ cấp cao, trong đó “trí tuệ cấp thấp mang tính chất tự nhiên, tồn tại quan hệ trực tiếp kích 12 thích của đối tượng (A) với phản ứng của cá thể (B), tạo ra cấu trúc hai thành phần: kích thích phản ứng (sơ đồ S R ) như ta thấy. Trong các chức năng tâm lý cấp cao mang tính chất văn hóa, tồn tại quan hệ gián tiếp giữa kích thích đối tượng ( A) và phản ứng ( B ) thông qua kích thích phương tiện ( X ) , tạo nên cấu trúc 3 thành phần: A X và X B [51, tr.
Howard Gardner phân chia thành 8 loại hình trí tuệ trong mỗi cá nhân và mỗi dạng trí tuệ độc lập không phụ thuộc nhau và được Howard Gardner phân tích rất chi tiết. Kết quả nghiên cứu này đã đưa các nhà nghiên cứu giáo dục sang một hướng mới, cân nhắc và bàn luận nhiều về quan niệm truyền thống bấy lâu nay về thước đo trí tuệ bằng trắc nghiệm IQ. Quan niệm về phát triển trí tuệ Trong [48] tác giả Nguyên Minh cho rằng “Phát triển trí tuệ là một quá trình nhằm đến việc làm phát triển khả năng hoạt động có hiệu quả của trí óc. Trong tự nhiên, khả năng này khác nhau ở mỗi chúng ta, khoa học ngày nay gọi đây là “chỉ số thông minh” (intelligence quotient, hay thường được viết tắt là IQ) của mỗi người.
Nhưng cho dù không hiểu được “chỉ số thông minh” là gì, vẫn có thể dễ dàng thấy được rằng khả năng suy luận, nhận hiểu và ứng phó với các vấn đề trong cuộc sống là khác nhau ở mỗi người”. Trong [51] đã chỉ ra một số các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát của trí tuệ cá nhân là: - Yếu tố sinh học (di truyền và bẩm sinh); - Yếu tố môi trường. Theo quan niệm của G.Piaget có bốn yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quá trình phát triển trí tuệ, đó là: Sự tăng trưởng cơ thể, đặc biệt là sự chín muồi của phức hợp tạo thành bởi hệ thần kinh; Vai trò của sự luyện tập và kinh nghiệm thu được thông qua hoạt động với đối tượng; Sự tương tác chuyển giao xã hội; Tính chủ thể và sự phối hợp chung của các hành động cá nhân. Nói về quan hệ giữa dạy học và phát triển trí tuệ, G.Piaget coi dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan hệ song hành và là điều kiện của nhau.
Thuyết đa trí tuệ 1. Biểu hiện của 8 dạng trí tuệ trong thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner Năm 1983, Howard Gardner đã xác định và công bố thuyết đa trí tuệ gồm 8 dạng trí tuệ. Theo ông, mỗi người đều có đủ cả 8 dạng trí tuệ, nhưng trong số đó sẽ có một vài dạng nổi trội, hơn nữa, các dạng trí tuệ biểu hiện ở một con người không phải là hằng số trong cả cuộc đời mà sẽ thay đổi tùy theo sự tác động.